Tìm chỗ sai trong một câu gần đúng là dạng bài thật thà nhất: không có đáp án để loại trừ, hoặc bạn thấy lỗi hoặc không. May là ở bậc 3 (2.245 từ vựng cộng dồn, chuẩn HSK 3.0), chỗ sai gần như luôn rơi vào sáu nhóm quen mặt. Bài này gom đủ sáu nhóm kèm dấu hiệu nhận ra và sáu câu luyện có đáp án; lý thuyết đầy đủ ở Ngữ pháp HSK 3.
Năm bước soi ra chỗ sai trong một câu
Đừng đọc câu rồi chờ cảm giác "nghe lạ lạ" — cảm giác đó chỉ đến sau rất nhiều giờ nghe. Trước đó hãy soi câu theo một trình tự cố định, mỗi bước lọc ra một nhóm lỗi.
- Tìm động từ chính, tách câu thành nửa trước và nửa sau động từ.
- Nửa trước: thời gian, phó từ, năng nguyện, cụm giới từ đúng thứ tự chưa.
- Nửa sau: bổ ngữ dán liền động từ chưa, tân ngữ có chen vào giữa không.
- Hư từ 了、着、过、得、把、被 đúng chỗ và đủ thành phần đi kèm chưa.
- Thứ đi thành cặp: lượng từ khớp danh từ chưa, liên từ đủ hai vế chưa.
Mỗi câu ở dạng bài này hầu như chỉ có một chỗ sai. Tìm được lỗi giải thích được bằng luật thì dừng, đừng viết lại cả câu cho "đẹp" — sửa quá tay là thành câu khác.
Lỗi trật tự trạng ngữ đặt sai chỗ
Nhóm đông nhất, và gần như toàn bộ đến từ tiếng Việt: ta nói được "tôi đến trường hôm qua", tiếng Trung thì không. Mọi thông tin trả lời khi nào, ở đâu, với ai đều phải nằm trước động từ. Ba câu sau đều đẩy trạng ngữ xuống sau động từ nên sai: 我去昨天学校 ✗, 我看书在图书馆 ✗, 他睡觉十一点 ✗. Nhiều trạng ngữ cùng đứng trước thì thời gian trước, nơi chốn sau.
我昨天下午在图书馆看书。
Wǒ zuótiān xiàwǔ zài túshūguǎn kàn shū.
Chiều hôm qua tôi đọc sách ở thư viện.
Lỗi thiếu hoặc thừa trợ từ 了
了 không phải "dấu quá khứ", nên cứ thấy chữ "đã" trong tiếng Việt là thêm 了 thì sai ngay. 了 báo việc đã hoàn thành hoặc tình huống vừa thay đổi. Vậy nên 明天我去了北京 ✗ sai vì việc chưa xảy ra, 我每天喝了咖啡 ✗ sai vì đó là thói quen, 他昨天没来了 ✗ sai vì có 没 thì phải bỏ 了. Chiều thiếu cũng hay gặp: 他学汉语三年 ✗ phải thành 他学了三年汉语.
他学了三年汉语,进步很大。
Tā xuéle sān nián Hànyǔ, jìnbù hěn dà.
Anh ấy học tiếng Trung ba năm, tiến bộ rất nhiều.
Một câu có thể gặp hai chữ 了 khác hẳn nhau: 了 (le) sau động từ hoặc cuối câu là trợ từ hoàn thành, còn 了 trong 吃得了、上不了课 đọc liǎo, nghĩa "nổi, được". Thấy 得 hay 不 nằm ngay trước 了 thì đó là liǎo.
Lỗi câu chữ 把 thiếu thành phần sau động từ
Câu 把 đưa tân ngữ lên trước động từ để nhấn việc xử lý nó ra sao, nên sau động từ bắt buộc còn thành phần chỉ kết quả: bổ ngữ, 了, chỗ đến hay người nhận. Động từ đứng trơ là sai: 我把书看 ✗. Ba lỗi còn lại: 把 đi với động từ không tác động lên vật (我把这个字不认识 ✗ — 认识、喜欢、是、有 đều không dùng 把); 没 đặt sau tân ngữ (他把作业没写完 ✗, phải là 他没把作业写完); và 把 dùng cho vật chưa xác định (我把一本书买了 ✗).
我已经把今天的作业写完了。
Wǒ yǐjīng bǎ jīntiān de zuòyè xiěwán le.
Tôi đã viết xong bài tập hôm nay rồi.
Lỗi bổ ngữ đặt sai hoặc phủ định sai
Bổ ngữ dán liền động từ thành một khối, tân ngữ không chen vào giữa: 我写作业完了 ✗ phải là 我写完作业了. Phủ định thì mỗi loại một luật. Bổ ngữ kết quả dùng 没 trước động từ (没写完、没听懂). Bổ ngữ khả năng không dùng 没 mà đổi 得 thành 不 chèn vào giữa, nên 他不听懂老师的话 ✗ và 我没听得懂 ✗ đều sai, đúng là 他听不懂老师的话. Bổ ngữ trạng thái bắt buộc có 得 (她跑很快 ✗), và động từ đã mang tân ngữ thì phải lặp lại: 他说汉语得很好 ✗ thành 他说汉语说得很好.
这些菜太多了,我们吃不完。
Zhèxiē cài tài duō le, wǒmen chī bù wán.
Mấy món này nhiều quá, chúng tôi ăn không hết.
Lỗi lượng từ dùng lẫn hoặc bỏ quên
HSK 3 mở bộ lượng từ ra khỏi chữ 个, và đề rất thích bắt lỗi ở đây. Kiểu thứ nhất là bỏ hẳn lượng từ (我买了一纸 ✗). Kiểu thứ hai là lấy 个 dùng cho mọi thứ: 桌子上有两个电脑 ✗ phải là 两台电脑, 我买了两个鞋 ✗ phải là 两双鞋. Nhớ theo hình dáng vật: 张 vật phẳng, 把 vật có tay cầm, 支 vật dài thẳng, 台 máy móc, 只 con vật nhỏ, 双 đồ theo cặp, 束 bó, 群 nhóm đông. Bảng tra đầy đủ ở lượng từ tiếng Trung.
教室里有三十张桌子和四十把椅子。
Jiàoshì lǐ yǒu sānshí zhāng zhuōzi hé sìshí bǎ yǐzi.
Trong lớp học có ba mươi cái bàn và bốn mươi chiếc ghế.
Lỗi cặp liên từ dùng lẻ hoặc ghép chéo
Liên từ ở HSK 3 phần lớn đi thành cặp, mất một nửa là câu hỏng. Ba kiểu sai: ghép chéo hai cặp (因为下雨,因此我没去 ✗ — 因为 đi với 所以, 由于 mới đi với 因此); đổi từ hô ứng ở vế sau (只有努力,就能成功 ✗ — 只有 luôn đi với 才); và bỏ hẳn vế sau (不仅他会说汉语 ✗ thiếu 还 hoặc 而且, 除了小明,我们去过北京 ✗ thiếu 都、也 hoặc 还).
他不仅会说汉语,还会写很多汉字。
Tā bùjǐn huì shuō Hànyǔ, hái huì xiě hěn duō Hànzì.
Anh ấy không chỉ biết nói tiếng Trung, mà còn biết viết rất nhiều chữ Hán.
Mười hai từ chức năng hay bị dùng sai ở HSK 3
把bǎ
(đưa đối tượng bị tác động lên trước động từ); cái, chiếc (lượng từ vật có tay cầm)
sau động từ phải có kết quả hoặc 了
Bảng đối chiếu câu sai và câu đúng
Tám cặp câu dưới đây phủ đủ sáu nhóm. Đọc cột giữa thành tiếng vài lượt, vì lỗi bậc 3 được sửa bằng phản xạ hơn là suy luận.
| Câu sai | Câu đúng | Lỗi nằm ở đâu |
|---|---|---|
| 我去昨天学校 | 我昨天去学校 | trạng ngữ thời gian đứng trước động từ |
| 明天我去了北京 | 明天我去北京 | việc chưa xảy ra thì không dùng 了 |
| 他昨天没来了 | 他昨天没来 | đã có 没 thì bỏ 了 |
| 我把书看 | 我把书看完了 | câu 把 cần kết quả sau động từ |
| 我写作业完了 | 我写完作业了 | bổ ngữ 完 dán liền động từ |
| 他不听懂老师的话 | 他听不懂老师的话 | phủ định bổ ngữ khả năng chèn 不 vào giữa |
| 桌子上有两个电脑 | 桌子上有两台电脑 | máy móc dùng 台, không dùng 个 |
| 只有努力,就能成功 | 只有努力,才能成功 | 只有 luôn hô ứng với 才 |
Sáu câu luyện có đáp án và giải thích
Mỗi câu dưới đây có đúng một chỗ sai, không nói trước thuộc nhóm nào. Tự khoanh chỗ nghi ngờ rồi đối chiếu đáp án bên dưới và bấm nút phát âm.
- 妹妹喝咖啡每天下午在家。 ✗
- 他吃饭了就去上班了。 ✗
- 请你把门关。 ✗
- 这本书我看两遍了,可是还不看懂。 ✗
- 桌子上放着两个电脑和三个笔。 ✗
- 只有天天练习,你就能提高汉语水平。 ✗
妹妹每天下午都在家喝咖啡。
Mèimei měi tiān xiàwǔ dōu zài jiā hē kāfēi.
Chiều nào em gái cũng uống cà phê ở nhà.
Câu 1. Trạng ngữ 每天下午 và cụm 在家 đều bị đẩy xuống sau 喝. Kéo cả hai lên trước động từ, thời gian rồi nơi chốn; có 每天 thì thêm 都 mới tự nhiên.
他吃了饭就去上班了。
Tā chīle fàn jiù qù shàngbān le.
Anh ấy ăn cơm xong là đi làm ngay.
Câu 2. Mẫu ⋯⋯了⋯⋯就⋯⋯ cần 了 dán sát động từ thứ nhất mới báo được "xong". Viết 吃饭了 là đẩy 了 ra sau tân ngữ, mất luôn quan hệ trước sau.
请你把门关上。
Qǐng nǐ bǎ mén guānshàng.
Bạn đóng cửa lại giúp tôi nhé.
Câu 3. Câu 把 không kết thúc bằng một động từ trần trụi. Thêm 上 để nói rõ kết quả; 关好 hay 关起来 cũng được, chỉ 把门关 là không được.
这本书我看了两遍,可是还看不懂。
Zhè běn shū wǒ kànle liǎng biàn, kěshì hái kàn bù dǒng.
Quyển sách này tôi đọc hai lượt rồi mà vẫn không hiểu.
Câu 4. Hai lỗi trong một câu: 了 phải nằm ngay sau 看, trước bổ ngữ số lần 两遍; còn 不看懂 là bê chữ "không" ra trước động từ, đúng phải là 看不懂.
桌子上放着两台电脑和三支笔。
Zhuōzi shàng fàngzhe liǎng tái diànnǎo hé sān zhī bǐ.
Trên bàn đặt hai chiếc máy tính và ba cây bút.
Câu 5. 个 không dùng chung cho mọi vật: máy móc đi với 台, bút đi với 支. Chữ 着 sau 放 thì đúng rồi, vì câu tả trạng thái còn duy trì.
只有天天练习,你才能提高汉语水平。
Zhǐyǒu tiāntiān liànxí, nǐ cái néng tígāo Hànyǔ shuǐpíng.
Chỉ khi ngày nào cũng luyện tập, bạn mới nâng cao được trình độ tiếng Trung.
Câu 6. 只有 nêu điều kiện duy nhất nên vế sau bắt buộc là 才. Muốn giữ 就 thì đổi vế đầu thành 只要 (chỉ cần), nhưng nghĩa nhẹ đi hẳn.
Năm chỗ nên rà lần cuối. Một, phó từ 也、都、常常 luôn đứng trước động từ. Hai, 有点儿 đứng trước tính từ và mang ý chê, 一点儿 đứng sau nêu mức chênh. Ba, câu có 才 thì cuối câu không thêm 了. Bốn, 极了、死了 gắn thẳng vào tính từ, không chèn 得. Năm, câu 被 cũng phải có kết quả sau động từ.
Nhận ra lỗi trên giấy chưa chắc nói đúng khi mở miệng: sang luyện tập làm trắc nghiệm và điền chỗ trống theo từng bài, hoặc học lại theo chương ở HSK 3 để gặp đúng các cấu trúc vừa sửa.
Làm sao biết một câu thiếu 了 hay thừa 了?
Hỏi hai câu: việc đã hoàn thành chưa, tình huống có vừa thay đổi không. Cả hai đều không thì bỏ 了 (việc tương lai, thói quen, câu có 没). Nếu câu nêu thời lượng hay số lần của việc đã làm mà chưa có 了 thì thêm ngay sau động từ: 学了三年.
Khi nào không được dùng câu chữ 把?
Khi động từ không làm đổi trạng thái của vật: 是、有、喜欢、认识、知道 đều không đi với 把. Tân ngữ cũng phải là vật xác định, nên không nói 我把一本书买了; và sau động từ luôn phải có kết quả, 了 hay chỗ đến.
Bổ ngữ kết quả và bổ ngữ khả năng phủ định khác nhau thế nào?
Bổ ngữ kết quả dùng 没 đặt trước động từ: 我没写完作业. Bổ ngữ khả năng đổi 得 thành 不 chèn vào giữa: 听得懂 thành 听不懂, 吃得完 thành 吃不完. Không nói 没听得懂, cũng không nói 不听懂.
Học lượng từ thế nào cho khỏi lẫn khi sửa câu?
Đừng học lượng từ rời mà học theo cụm số cộng lượng từ cộng danh từ: 一张纸、两台电脑、三双鞋. Gặp danh từ mới thì ghi luôn lượng từ đi kèm; quen chừng năm chục cụm là lỗi lượng từ trong đề tự lộ ra.
Hanbeego Team
Biên soạn bởi đội ngũ Hanbeego — học tiếng Trung hiệu quả, mỗi ngày 15 phút.