Lên bậc 2, câu trong đề sửa lỗi dài thêm vài chữ và bắt đầu chứa những thành phần bậc 1 chưa gặp: trợ từ 过, bổ ngữ với 得, câu so sánh 比, cùng loạt giới từ 给、离、从. Ở bậc 1.272 từ vựng cộng dồn theo chuẩn HSK 3.0, chỗ sai không còn là thiếu hẳn một chữ, mà là một chữ đúng bị đặt lệch một nấc. Bài này gom sáu nhóm lỗi đặc trưng của bậc 2 kèm bảy câu luyện có đáp án; bảng cấu trúc đầy đủ nằm ở Ngữ pháp HSK 2.
Bậc 2 sai khác bậc 1 ở chỗ nào
Ở bậc 1, hầu hết lỗi là bê nguyên trật tự tiếng Việt sang tiếng Trung nên nhìn phát ra ngay. Sang bậc 2, câu sai thường đọc rất trôi: đủ chữ, đoán được nghĩa, chỉ một thành phần đứng nhầm chỗ. Đừng đọc theo cảm giác, hãy soi theo năm câu hỏi dưới đây.
- Vị ngữ là tính từ hay động từ? Là tính từ thì trước nó phải có 很、太、特别、挺 và tuyệt đối không có 是.
- Câu kể việc từng làm hay việc đã xong? Từng làm dùng 过, hoàn thành ở một mốc cụ thể dùng 了.
- Trong câu có chữ 得 không? Động từ mang tân ngữ thì phải nhắc lại động từ trước 得.
- Có 比、给、离、从、跟 không? Cả năm đều đứng trước động từ, không tụt xuống cuối câu.
- Phần đo mức độ: 有点儿 đứng trước tính từ, còn 一点儿 đứng sau tính từ.
Lỗi thêm 是 trước tính từ
Tiếng Việt nói "tôi thì cao", "trời thì nóng" đều xuôi, còn tiếng Trung để tính từ tự làm vị ngữ, không được có 是 đứng trước. Câu sai: 我是很高。· 今天天气是很好。· 这个饭馆的菜是很好吃。 Bỏ 是 là xong: 我很高。/ 今天天气很好。/ 这个饭馆的菜很好吃。 Ngược lại, vị ngữ là danh từ thì bắt buộc có 是: 他是我的同学。 Biến thể hay đi kèm là bỏ luôn cả 很: câu 我高。 nghe dở dang vì tính từ đứng trơ mang sẵn ý so sánh ngầm, nên trước tính từ luôn để một phó từ mức độ.
李娜的房间很干净,也很漂亮。
Lǐ Nà de fángjiān hěn gānjìng, yě hěn piàoliang.
Phòng của Lý Na rất sạch sẽ, cũng rất đẹp.
Lỗi lẫn giữa 过 và 了
过 nói đã từng — kinh nghiệm có trong đời, không rõ lúc nào; 了 nói việc đã hoàn thành ở một mốc cụ thể. Câu sai: 我没吃过饺子了。· 我去中国过一次。· 我上个月看过这本书了。 Câu đầu thừa 了 vì 没 đã báo việc chưa từng xảy ra: 我没吃过饺子。 Câu hai đặt 过 sau tân ngữ, trong khi 过 phải bám ngay sau động từ: 我去过一次中国。 Câu ba đã có mốc 上个月 nên phải dùng 了 và bỏ 过: 我上个月看了这本书。 Mẹo nhanh: bản dịch có chữ "từng" hoặc "đã bao giờ chưa" thì dùng 过.
我去过两次北京,上个月又去了一次。
Wǒ qùguo liǎng cì Běijīng, shàng gè yuè yòu qùle yí cì.
Tôi từng đến Bắc Kinh hai lần, tháng trước lại đi thêm một lần nữa.
过 có hai cách đọc. Làm động từ với nghĩa "qua, trải qua" thì đọc guò mang thanh 4: 过生日. Chỉ khi đứng ngay sau động từ để chỉ kinh nghiệm nó mới đọc nhẹ thành guo: 我学过汉语。
Lỗi quên lặp động từ trước 得
Bổ ngữ trạng thái là điểm mới rõ nhất của bậc 2: động từ + 得 + tính từ, dùng để nhận xét việc làm tốt hay dở, nhanh hay chậm. Hai lỗi luôn đi cùng nhau. Thứ nhất là đảo thứ tự phía sau 得. Câu sai: 他跑得快很。 Phải là 他跑得很快。, vì sau 得 vẫn là cụm tính từ bình thường. Thứ hai là quên nhắc lại động từ khi động từ có tân ngữ. Câu sai: 他说汉语得很好。· 她唱歌得不错。 Đúng phải là động từ + tân ngữ + động từ lặp lại + 得: 他说汉语说得很好。/ 她唱歌唱得不错。 Gọn hơn thì đẩy tân ngữ lên trước: 他汉语说得很好。 Phủ định đặt sau 得: 他跑得不快。
李娜说汉语说得很好,我们都想跟她学。
Lǐ Nà shuō Hànyǔ shuō de hěn hǎo, wǒmen dōu xiǎng gēn tā xué.
Lý Na nói tiếng Trung rất giỏi, chúng tôi đều muốn học cùng bạn ấy.
Lỗi thừa phó từ mức độ trong câu so sánh với 比
Câu 比 kỵ nhất là mang theo phó từ mức độ, vì phép so sánh đã nói lên mức độ rồi. Câu sai: 今天比昨天很热。· 他的手机比我的非常贵。 Câu đúng gọn hơn hẳn: 今天比昨天热。/ 他的手机比我的贵。 Muốn nêu rõ hơn kém bao nhiêu thì thêm phần số lượng vào sau tính từ: 弟弟比我大两岁。 Muốn nhấn mạnh thì dùng 更 hoặc 还: 他的手机比我的更贵。 Khi phủ định, đừng ghép 比 với 不 mà đổi hẳn sang 没有: 我的手机没有他的贵。
这件衣服比那件便宜一点儿,我买这件。
Zhè jiàn yīfu bǐ nà jiàn piányi yìdiǎnr, wǒ mǎi zhè jiàn.
Chiếc áo này rẻ hơn chiếc kia một chút, tôi mua chiếc này.
Lỗi đặt cụm giới từ sau động từ
Bậc 2 bổ sung một loạt giới từ, cả loạt theo cùng một luật: cụm giới từ đứng trước động từ. Tiếng Việt quen đẩy chúng xuống cuối câu nên đây là nhóm sai đông nhất. Câu sai: 我买了一件衣服给妈妈。 → 我给妈妈买了一件衣服。 · Câu sai: 我家不远离学校。 → 我家离学校不远。 · Câu sai: 我上课从八点到十二点。 → 我从八点到十二点上课。 · Câu sai: 我说汉语跟老师。 → 我跟老师说汉语。 Riêng 离 chỉ đi với khoảng cách, tức cặp 远 và 近, chứ không đi cùng động từ đi lại.
我家离公司很近,从家到公司只要十分钟。
Wǒ jiā lí gōngsī hěn jìn, cóng jiā dào gōngsī zhǐ yào shí fēnzhōng.
Nhà tôi rất gần công ty, từ nhà đến công ty chỉ mất mười phút.
Lỗi lẫn giữa 有点儿 và 一点儿
Hai cụm này cùng dịch là "một chút" nên người Việt dùng lẫn liên tục, nhưng vị trí và sắc thái khác hẳn. 有点儿 đứng trước tính từ, mang ý than phiền nhẹ về điều mình không mong muốn: 今天有点儿冷。、这件衣服有点儿贵。 Còn 一点儿 đứng sau tính từ, dùng khi so sánh hoặc đề nghị ai đó điều chỉnh: 便宜一点儿,好吗?、你能说得慢一点儿吗? Vì vậy 今天一点儿冷。 và 你能说得有点儿慢吗? đều sai vị trí.
今天有点儿累,我想早一点儿睡觉。
Jīntiān yǒudiǎnr lèi, wǒ xiǎng zǎo yìdiǎnr shuìjiào.
Hôm nay hơi mệt, tôi muốn đi ngủ sớm hơn một chút.
Mười từ HSK 2 hay bị đặt sai chỗ
Bảng đối chiếu câu sai và câu đúng
Mười cặp câu dưới đây phủ đủ sáu nhóm trên, cộng hai lỗi nhỏ về lượng từ và phủ định so sánh. Đọc to cột giữa vài lượt.
| Câu sai | Câu đúng | Lỗi nằm ở đâu |
|---|---|---|
| 我是很累 | 我很累 | tính từ làm vị ngữ thì không có 是 |
| 我没去过北京了 | 我没去过北京 | câu có 没 và 过 thì cuối câu bỏ 了 |
| 他写汉字得很好 | 他写汉字写得很好 | động từ có tân ngữ phải lặp lại trước 得 |
| 他跑得不很快 | 他跑得不快 | phủ định nằm ngay sau 得, không kèm 很 |
| 姐姐比我很高 | 姐姐比我高 | câu so sánh với 比 không dùng 很 |
| 我比他不忙 | 我没有他忙 | phủ định so sánh dùng 没有, không dùng 比 |
| 我打了电话给李娜 | 我给李娜打了电话 | cụm 给 phải đứng trước động từ |
| 我家很近离学校 | 我家离学校很近 | cụm 离 đứng trước phần nói xa gần |
| 今天一点儿热 | 今天有点儿热 | than phiền nhẹ thì dùng 有点儿 đứng trước |
| 我买了三个衣服 | 我买了三件衣服 | 衣服 dùng lượng từ 件, không dùng 个 |
Bảy câu luyện có đáp án và giải thích
Mỗi câu dưới đây có đúng một chỗ sai, không nói trước thuộc nhóm nào. Tự khoanh chỗ nghi ngờ, viết lại cả câu ra giấy rồi mới mở đáp án.
- Câu sai: 这个房间是很干净。
- Câu sai: 我没看过这个电影了。
- Câu sai: 小明打篮球得很好。
- Câu sai: 我今年比去年很忙。
- Câu sai: 我买了一些水果给妹妹。
- Câu sai: 这条路一点儿远,我们坐车去吧。
- Câu sai: 我家不远离医院。
这个房间很干净。
Zhège fángjiān hěn gānjìng.
Căn phòng này rất sạch sẽ.
Câu 1. Thừa chữ 是. Vị ngữ là tính từ 干净, mà tính từ tự làm vị ngữ được nên chỉ cần một phó từ mức độ đứng trước. Vị ngữ là danh từ mới cần 是: 这是我的房间。
我没看过这个电影。
Wǒ méi kànguo zhège diànyǐng.
Tôi chưa từng xem bộ phim này.
Câu 2. Thừa chữ 了. Đã có 没 thì việc chưa hề xảy ra, mà 了 lại báo việc đã xảy ra nên hai chữ chống nhau. Muốn giữ 了 thì phải chuyển sang câu khẳng định: 我看过这个电影了。
小明打篮球打得很好。
Xiǎo Míng dǎ lánqiú dǎ de hěn hǎo.
Tiểu Minh chơi bóng rổ rất giỏi.
Câu 3. Động từ 打 mang tân ngữ 篮球 nên phải lặp lại 打 rồi mới tới 得. Cách gọn hơn là đưa tân ngữ lên trước: 小明篮球打得很好。 Bỏ hẳn động từ lặp thì sai.
我今年比去年忙。
Wǒ jīnnián bǐ qùnián máng.
Năm nay tôi bận hơn năm ngoái.
Câu 4. Thừa chữ 很. Trong câu 比, phép so sánh đã mang sẵn mức độ rồi. Muốn nhấn mạnh thì thay 很 bằng 更: 我今年比去年更忙。
我给妹妹买了一些水果。
Wǒ gěi mèimei mǎile yìxiē shuǐguǒ.
Tôi mua một ít hoa quả cho em gái.
Câu 5. Cụm 给妹妹 bị đẩy xuống cuối câu theo lối tiếng Việt. Người được hưởng lợi đi cùng 给 và cả cụm nằm trước động từ; chữ 了 vẫn bám sát động từ 买.
这条路有点儿远,我们坐车去吧。
Zhè tiáo lù yǒudiǎnr yuǎn, wǒmen zuò chē qù ba.
Con đường này hơi xa, chúng ta đi xe đi.
Câu 6. Người nói than phiền quãng đường xa hơn mong muốn nên phải dùng 有点儿 đứng trước tính từ. Dạng 远一点儿 chỉ đúng khi so sánh: 这条路比那条远一点儿。
我家离医院不远。
Wǒ jiā lí yīyuàn bù yuǎn.
Nhà tôi cách bệnh viện không xa.
Câu 7. Cụm 离医院 phải đứng trước phần nói xa gần, y như 从 và 给. Nhớ rằng 离 chỉ ghép với 远 và 近, không ghép với động từ đi lại.
Sáu chỗ rà lần cuối. Một, trước tính từ không có 是. Hai, câu có 没 và 过 thì bỏ 了. Ba, động từ mang tân ngữ phải lặp lại trước 得. Bốn, câu 比 không đi cùng 很、太、非常. Năm, 给、离、从、跟、在 đều đứng trước động từ. Sáu, 有点儿 trước tính từ, 一点儿 sau tính từ.
Sửa đúng trên giấy rồi thì nên gặp lại chính những cấu trúc ấy trong câu thật. Bài học và từ vựng HSK 2 đi theo từng chương, có phát âm bản xứ; bài đọc bậc 2 cho thấy 过、得、比 xuất hiện tự nhiên thế nào. Gặp chữ lạ thì tra ở từ điển.
Khi nào dùng 过, khi nào dùng 了?
Hỏi xem câu kể kinh nghiệm hay việc đã xong. Kinh nghiệm không gắn mốc thời gian thì dùng 过: 我去过中国。 Việc hoàn thành ở mốc cụ thể thì dùng 了: 我昨天去了银行。 Hai trợ từ không dùng chung; phủ định bằng 没 thì giữ 过 và bỏ 了.
Câu có 得 thì đặt tân ngữ và phủ định ở đâu?
Tân ngữ đi ngay sau động từ thứ nhất, rồi lặp lại động từ đó trước 得: 他说汉语说得很好。 Hoặc đưa tân ngữ lên trước: 他汉语说得很好。 Phủ định luôn nằm sau 得: 他说得不好。, còn 他不说得好。 là sai.
Câu so sánh với 比 thì phủ định thế nào?
Không ghép 比 với 不. Muốn nói A không bằng B thì đổi sang A 没有 B kèm tính từ: 我的手机没有他的贵。 Muốn nói hai bên như nhau thì dùng 跟 ... 一样: 我的手机跟他的一样贵。
Nói về vị trí thì dùng 有 hay 在?
有 nêu cái gì tồn tại ở một nơi nên nơi chốn đứng đầu câu: 教室里有很多学生。 Còn 在 nêu người hay vật đang ở đâu nên chủ ngữ đứng đầu: 李娜在教室里。 Đảo hai khung này là lỗi hay gặp.
Nên luyện dạng sửa câu sai bậc 2 thế nào?
Đừng dừng ở chỗ khoanh tròn. Viết lại cả câu đúng bằng tay, đọc to hai ba lượt, rồi ghi tên nhóm lỗi bên cạnh. Sau chừng bốn mươi câu bạn sẽ thấy mình chỉ mắc hai ba nhóm, thường là 得 và các giới từ.
Hanbeego Team
Biên soạn bởi đội ngũ Hanbeego — học tiếng Trung hiệu quả, mỗi ngày 15 phút.