Đề sửa câu sai bậc 5 ít khi sai luật trắng trợn. Câu vẫn đủ thành phần, từ nào cũng đã học, chỉ là lệch nửa cặp liên từ, lệch một lớp trạng ngữ, hoặc ghép hai từ vốn không đi với nhau. Bậc này phủ 4.316 từ vựng cộng dồn (chuẩn HSK 3.0) nên mỗi ý có ba bốn cách nói gần nhau, đề càng nhiều chỗ gài. Bài này gom bảy nhóm lỗi đúng tầm HSK 5 theo lối câu sai → chỗ sai → câu đã sửa; nền lý thuyết ở Ngữ pháp HSK 5.
Lỗi bậc 5 nằm ở quan hệ giữa hai vế
Bậc 4 phần lớn sai vị trí một chữ trong một vế: phó từ lệch ô, cụm giới từ rơi xuống sau động từ. Bậc 5 dồn lỗi vào quan hệ giữa các vế và quan hệ giữa các từ: hai vế nối nhau bằng quan hệ gì, thành phần nào đã mang sẵn nghĩa nên không được nói lại, hai từ cạnh nhau có thật sự đi với nhau. Lỗi kiểu đó chỉ lộ ra khi đọc trọn câu.
- Tách câu theo dấu phẩy, xem mỗi vế đã đủ chủ ngữ và vị ngữ chưa.
- Thấy 即使, 尽管, 除非, 一旦, 只有 thì tìm ngay nửa hô ứng.
- Dịch thầm hai vế, xem quan hệ logic có khớp từ nối đã chọn.
- Xét khung động từ: câu 把, câu bị động, chữ 得 đã đúng loại chưa.
- Đếm thành phần: cái gì thừa nghĩa, cái gì thiếu, cái gì lệch chỗ.
Bậc 5 vẫn là lỗi một chỗ, nhưng chỗ đó nằm ở mối nối giữa hai vế. Sửa đúng một chỗ thôi: viết lại thành câu khác nghĩa cũng bị tính sai.
Lỗi ghép thiếu hoặc lẫn nửa cặp liên từ
Mỗi cặp quan hệ từ ở bậc 5 khoá chặt nửa của mình: 即使 khoá với 也, 一旦 khoá với 就, 除非 khoá với 才 hoặc với 否则. Câu sai: 即使这次面试没通过,但是我明年也会再试一次。 Chữ 但是 là nửa của 虽然 và 尽管, còn 即使 chỉ đi với 也, bỏ 但是 là xong. Câu sai: 除非你亲自跟他解释清楚,否则他才会相信你。 Hai khuôn bị trộn vào nhau: hoặc 除非⋯⋯,才⋯⋯, hoặc 除非⋯⋯,否则⋯⋯ với vế sau mang ý phủ định. Câu sai: 一旦签了合同,我们不能随便改条件了。 Thiếu chữ 就 mở vế kết quả. Cặp 只有⋯⋯,才⋯⋯ học từ bậc 3 cũng hay bị đổi nửa sau thành 就; muốn dùng 就 thì vế đầu phải là 只要.
即使这次面试没通过,我明年也会再试一次。
Jíshǐ zhè cì miànshì méi tōngguò, wǒ míngnián yě huì zài shì yí cì.
Cho dù lần phỏng vấn này không đạt, sang năm tôi vẫn sẽ thử lại một lần nữa.
Lỗi chọn từ nối sai sắc thái
Nhóm này mới hẳn ở bậc 5 vì mấy từ nối đó dịch sang tiếng Việt gần như trùng nhau. 尽管 chỉ dùng cho việc đã là sự thật, việc giả định phải dùng 即使 — Câu sai: 尽管明天有台风,我们也要按时出发。 Chữ 因而 tự nó đã nêu kết quả nên vế trước không cần 因为 — Câu sai: 因为他提前做了充分的准备,因而这次面试进行得很顺利。 Bỏ 因为, hoặc giữ 因为 rồi đổi 因而 thành 所以. Còn 以便 và 为的是 chỉ đứng đầu vế sau — Câu sai: 以便跟大家保持联系,我留了一个新号码。 Muốn đặt mục đích lên trước thì dùng 为了.
他提前做了充分的准备,因而这次面试进行得很顺利。
Tā tíqián zuò le chōngfèn de zhǔnbèi, yīn'ér zhè cì miànshì jìnxíng de hěn shùnlì.
Anh ấy đã chuẩn bị đầy đủ từ trước, nhờ vậy buổi phỏng vấn lần này diễn ra rất suôn sẻ.
Lỗi câu xử lý và câu bị động ở bậc 5
Bậc 5 mở thêm khuôn 把 + tân ngữ + 一 + động từ, tả động tác nhanh gọn rồi làm việc khác. Câu sai: 他把桌子上的资料收,站起来就走了。 Sau 把 không được để động từ đứng trơ, thêm 一 trước 收 là xong. Câu sai: 我们把这个方案都很满意。 Chữ 满意 chỉ trạng thái, không phải hành động xử lý, nên phải dùng 对. Bậc này còn dạy câu bị động ý niệm (意念被动句): vật chịu tác động đứng đầu, sau động từ có kết quả và 了, không cần 被 — Câu sai: 通知已经被发到每个人的邮箱里了。
他把桌子上的资料一收,站起来就走了。
Tā bǎ zhuōzi shàng de zīliào yì shōu, zhàn qǐlái jiù zǒu le.
Anh ấy thu gọn chỗ tài liệu trên bàn một cái, đứng lên là đi luôn.
通知已经发到每个人的邮箱里了。
Tōngzhī yǐjīng fā dào měi ge rén de yóuxiāng lǐ le.
Thông báo đã gửi đến hộp thư của từng người rồi.
Lỗi bổ ngữ trạng thái và mẫu mức độ cực cấp
Bậc 3 chỉ cần 得 kèm một tính từ, bậc 5 cho cả một cụm đứng sau 得, nên chỗ hay hụt chính là chữ 得 — Câu sai: 孩子们在院子里玩儿忘了回家吃饭。 Ngược lại, có mẫu tuyệt đối không nhận 得 — Câu sai: 第一次被客户拒绝,我的心情坏得透了。 Hai chữ 透了 và 坏了 gắn thẳng vào từ đứng trước nó. Mẫu đã cực cấp cũng không thêm phó từ mức độ — Câu sai: 儿子考上了理想的大学,他非常高兴得不得了。 Bỏ 非常 là vừa đủ.
孩子们在院子里玩儿得忘了回家吃饭。
Háizimen zài yuànzi lǐ wánr de wàng le huí jiā chī fàn.
Bọn trẻ chơi trong sân đến mức quên cả về nhà ăn cơm.
Ba chữ đọc y như nhau nên hay viết lẫn: 得 nối động từ với bổ ngữ (玩儿得忘了回家), 地 nối trạng ngữ cách thức với động từ (认真地复习), 的 nối định ngữ với danh từ (充分的准备).
Lỗi trật tự khi câu có nhiều trạng ngữ
多项状语 là điểm ngữ pháp riêng của bậc 5: nhiều trạng ngữ cho một động từ phải xếp theo thứ tự thời gian → mục đích → nơi chốn → phạm vi (都, 也) → cách thức (⋯⋯地) → động từ. Câu sai: 我在办公室昨天下午跟同事讨论了这个方案。 Nơi chốn nhảy lên trước thời gian. Câu sai: 同学们非常认真都做完了作业。 Chữ 都 phải đứng ngay sau chủ ngữ, còn cụm cách thức hai âm tiết cần thêm 地. Vế mục đích dài thì tách hẳn ra đầu câu kèm dấu phẩy — Câu sai: 他每天在图书馆为了准备考试认真地复习。
为了准备考试,他每天都在图书馆认真地复习到很晚。
Wèile zhǔnbèi kǎoshì, tā měi tiān dōu zài túshūguǎn rènzhēn de fùxí dào hěn wǎn.
Để chuẩn bị cho kỳ thi, ngày nào anh ấy cũng ôn tập chăm chú ở thư viện đến rất muộn.
Lỗi thừa nghĩa và lỗi mất chủ ngữ
Hai nhóm này bị trừ nặng vì câu đọc lên vẫn trôi. Thừa nghĩa là nói hai lần cùng một ý — Câu sai: 参加这次活动的人数大约有五十人左右。 Chữ 大约 và 左右 đều mang nghĩa chừng chừng, giữ một cái thôi. Câu sai: 这次活动的目的是为了让更多的人了解中国文化。 Cụm 目的是 đã gồm nghĩa nhằm để. Mất chủ ngữ thì thường do chữ 使 — Câu sai: 通过这次实习,使我的沟通能力提高了不少。 Cụm 通过⋯⋯ chỉ là trạng ngữ; bỏ 使, hoặc bỏ 通过 để 这次实习 lên làm chủ ngữ.
通过这次实习,我的沟通能力提高了不少。
Tōngguò zhè cì shíxí, wǒ de gōutōng nénglì tígāo le bù shǎo.
Qua kỳ thực tập này, khả năng giao tiếp của tôi đã tiến bộ lên khá nhiều.
Lỗi kết hợp từ khi hai từ gần nghĩa
Tiếng Trung gọi nhóm này là 搭配不当: từ nào đi với từ nào là quy ước, không suy ra được từ nghĩa. Ba cặp hay mắc nhất: 提高 đi với 水平, 效率, 成绩, còn 增加 chỉ đi với thứ đếm được như 收入, 人数 — Câu sai: 这个新办法可以增加工作效率。 养成 đi với 习惯, còn 培养 đi với 能力, 兴趣, 人才 — Câu sai: 我希望自己能培养早睡早起的习惯。 严格 đi với 要求, 规定, còn 严重 đi với 问题, 后果 — Câu sai: 老师对我们的要求很严重。 Cặp cuối: 意见 và 协议 đi với 达成, không đi với 完成.
老师对我们的要求很严格,因而这个学期大家的成绩提高了不少。
Lǎoshī duì wǒmen de yāoqiú hěn yángé, yīn'ér zhège xuéqī dàjiā de chéngjì tígāo le bù shǎo.
Cô giáo yêu cầu chúng tôi rất nghiêm, nhờ vậy học kỳ này thành tích của mọi người tiến bộ lên nhiều.
Mười hai từ nối và phó từ bậc 5 hay bị dùng sai
Bảng đối chiếu câu sai và câu đúng
Chín cặp câu dưới đây phủ đủ bảy nhóm. Đọc cột giữa thành tiếng vài lượt cho quen tai, vì trong phòng thi mỗi câu chỉ có vài giây.
| Câu sai | Câu đúng | Lỗi nằm ở đâu |
|---|---|---|
| 尽管明天有台风,我们也要按时出发 | 即使明天有台风,我们也要按时出发 | việc chưa xảy ra thì dùng 即使 |
| 除非你去解释,否则他才会相信 | 除非你去解释,他才会相信 | trộn hai khuôn 除非⋯⋯才 và 除非⋯⋯否则 |
| 一旦签了合同,我们不能改了 | 一旦签了合同,我们就不能改了 | vế kết quả của 一旦 phải mở bằng 就 |
| 因为他准备得充分,因而一切很顺利 | 他准备得充分,因而一切都很顺利 | 因而 tự nêu kết quả, không cần 因为 |
| 我们把这个方案都很满意 | 我们对这个方案都很满意 | 满意 là trạng thái, không vào câu 把 |
| 通知已经被发到大家的邮箱里了 | 通知已经发到大家的邮箱里了 | việc trung tính dùng bị động ý niệm |
| 我的心情坏得透了 | 我的心情坏透了 | 透了 gắn thẳng vào từ, không có 得 |
| 我在办公室昨天下午写完了报告 | 我昨天下午在办公室写完了报告 | trạng ngữ thời gian đứng trước nơi chốn |
| 这次活动的目的是为了宣传环保 | 这次活动的目的是宣传环保 | 目的是 đã gồm nghĩa nhằm để |
Bảy câu luyện có đáp án và giải thích
Mỗi câu dưới đây có đúng một chỗ sai, không nói trước thuộc nhóm nào. Tự khoanh rồi mới đối chiếu đáp án, và bấm nút phát âm ở câu đã sửa để nghe lại.
- Câu sai: 除非你提前一天报名,否则才能参加这次讲座。
- Câu sai: 尽管明年有机会去中国留学,我也要先把口语练好。
- Câu sai: 一旦答应了别人,你不能随便改主意。
- Câu sai: 通过这半年的锻炼,使我的身体好了很多。
- Câu sai: 看到女儿平安回来,妈妈激动说不出话来。
- Câu sai: 我们班的同学非常认真都做完了老师留的作业。
- Câu sai: 这几年我们家的生活水平改善了不少。
除非你提前一天报名,才能参加这次讲座。
Chúfēi nǐ tíqián yì tiān bàomíng, cái néng cānjiā zhè cì jiǎngzuò.
Trừ phi bạn đăng ký trước một ngày, mới tham gia được buổi chuyên đề này.
Câu 1. Giữ 才 thì bỏ 否则. Muốn giữ 否则 thì vế sau phải là hậu quả xấu: 除非你提前一天报名,否则就来不及了.
即使明年有机会去中国留学,我也要先把口语练好。
Jíshǐ míngnián yǒu jīhuì qù Zhōngguó liúxué, wǒ yě yào xiān bǎ kǒuyǔ liàn hǎo.
Cho dù sang năm có cơ hội đi Trung Quốc du học, tôi vẫn phải luyện tốt phần nói trước đã.
Câu 2. Chuyện sang năm chưa xảy ra nên là giả định, phải dùng 即使. Nửa sau vốn đã đúng: 也 nằm sau chủ ngữ.
一旦答应了别人,你就不能随便改主意。
Yídàn dāying le biérén, nǐ jiù bù néng suíbiàn gǎi zhǔyi.
Một khi đã hứa với người khác thì bạn không được tùy tiện đổi ý.
Câu 3. 一旦 nêu điều kiện giả định nên vế kết quả mở bằng 就, và 就 đứng sau chủ ngữ 你.
通过这半年的锻炼,我的身体好了很多。
Tōngguò zhè bàn nián de duànliàn, wǒ de shēntǐ hǎo le hěn duō.
Qua nửa năm rèn luyện, sức khỏe của tôi đã tốt lên nhiều.
Câu 4. Chữ 使 làm câu mất chủ ngữ vì 通过⋯⋯ chỉ là trạng ngữ. Cách khác: 这半年的锻炼使我的身体好了很多.
看到女儿平安回来,妈妈激动得说不出话来。
Kàndào nǚ'ér píng'ān huílái, māma jīdòng de shuō bù chū huà lái.
Thấy con gái về nhà bình an, mẹ xúc động đến mức không nói nên lời.
Câu 5. 激动 và 说不出话来 phải nối bằng 得, vì sau 得 là cả một cụm chứ không phải một tính từ đơn.
我们班的同学都非常认真地做完了老师留的作业。
Wǒmen bān de tóngxué dōu fēicháng rènzhēn de zuò wán le lǎoshī liú de zuòyè.
Các bạn trong lớp tôi đều rất chăm chú làm xong bài tập cô giáo giao.
Câu 6. Cùng một lỗi trật tự: 都 lên ngay sau chủ ngữ, cụm 非常认真 xuống sát động từ và thêm 地.
这几年我们家的生活水平提高了不少。
Zhè jǐ nián wǒmen jiā de shēnghuó shuǐpíng tígāo le bù shǎo.
Mấy năm nay mức sống của gia đình tôi đã nâng lên khá nhiều.
Câu 7. 水平 đi với 提高, còn 改善 đi với 条件, 环境, 关系. Giữ 改善 thì phải đổi tân ngữ: 生活条件改善了不少.
Ba chỗ nên rà lần cuối. Một, một câu không được có cả 否则 và 才. Hai, 不管 đòi vế trước có từ nghi vấn và vế sau có 都 hoặc 也. Ba, 目的是, 原因是 và 通过⋯⋯ đã mang sẵn nghĩa nên đừng thêm 为了, 因为 hay 使.
Nhận ra lỗi trên giấy chỉ là bước đầu. Sang đọc hiểu HSK 5 để gặp lại các cặp liên từ trong bài khoá dài, rồi học theo chương ở HSK 5.
Phân biệt 尽管 với 即使 thế nào cho nhanh?
Xem việc ở vế đầu đã xảy ra chưa. Đã là sự thật thì dùng 尽管, vế sau mở bằng 但是 hoặc 可是; còn giả định thì dùng 即使, vế sau có 也. Đổi chỗ hai từ này sai nghĩa chứ không sai ngữ pháp, nên đề rất thích gài.
除非 đi với 才 hay đi với 否则?
Cả hai, nhưng không dùng cùng lúc. 除非⋯⋯,才⋯⋯ nêu điều kiện duy nhất để có kết quả mong muốn; 除非⋯⋯,否则/不然⋯⋯ nêu điều kiện duy nhất để tránh hậu quả xấu nên vế sau thường mang ý phủ định.
Khi nào bỏ 被, khi nào giữ?
Việc bình thường, không cần nêu ai làm thì dùng câu bị động ý niệm: vật đứng đầu, sau động từ có kết quả và 了. Giữ 被 khi có tác nhân rõ và việc ngoài mong đợi, ví dụ 合同被人改过了.
Có cách nào học lỗi kết hợp từ ngoài học thuộc?
Học theo cụm chứ đừng học từ lẻ: ghi 提高水平, 养成习惯, 严格要求, 达成一致 thành một đơn vị rồi đọc thành tiếng. Gặp từ mới thì chép luôn cả tân ngữ đi kèm.
Hanbeego Team
Biên soạn bởi đội ngũ Hanbeego — học tiếng Trung hiệu quả, mỗi ngày 15 phút.