Luyện viết31 tháng 7, 20268 phút đọc

Đoạn văn mẫu HSK 4 theo chủ đề: sáu đoạn nêu quan điểm và lập luận

Sáu đoạn văn mẫu HSK 4 theo chủ đề, mỗi đoạn kèm phân tích nêu ý, dẫn chứng, nhượng bộ, chốt, thêm khung bố cục mười câu và bộ từ nối lập luận nên thuộc.

Ở HSK 3, viết được tám câu nối vào nhau là đủ. Lên HSK 4, đề bắt đầu hỏi bạn nghĩ gì — một đoạn chỉ tả mà không có ý riêng thì dù đúng ngữ pháp vẫn nằm ở tầm dưới. Khác biệt thật nằm ở bốn động tác: nêu quan điểm, đưa dẫn chứng kiểm được, nhượng bộ ý đối lập, rồi chốt. Bài này có sáu đoạn mẫu trong phạm vi 3.245 từ HSK 4, mỗi đoạn kèm phần mổ xẻ chỉ rõ câu nào làm động tác nào.

Cách dùng có ích nhất: đọc tên chủ đề, tự viết đoạn của mình trước, rồi mới mở đoạn mẫu ra so. Mỗi đoạn mẫu có nút phát âm đọc liền cả đoạn — nghe hai lượt là tự thấy câu nào của mình dài quá mức. Bảng khung mười câu và hai bộ từ nối dưới đây dùng lại được cho cả sáu chủ đề; cần đối chiếu cấu trúc thì mở ngữ pháp HSK 4.

Bài bám chuẩn HSK 3.0: HSK 4 gồm 3.245 từ cộng dồn, đã bao gồm 2.245 từ của HSK 3. Mọi câu tiếng Trung trong bài chỉ dùng từ trong phạm vi đó — kể cả chủ đề hối hận cũng viết được mà không cần 后悔 (hòuhuǐ, thuộc HSK 5). Muốn học đủ từ và cấu trúc thì theo lộ trình HSK 4.

Khung mười câu cho đoạn văn có quan điểm

Sáu đoạn trong bài dựng trên cùng một khung. So với khung bảy câu của HSK 3, khung này thêm ba chỗ: một câu định vị người nói, một câu dựng ý phản đối, một câu nhượng bộ trước khi chốt. Ba chỗ đó là phần người chấm HSK 4 tìm — chúng cho thấy bạn không chỉ kể được mà còn xếp được lý lẽ.

CâuViệc câu đó làmCụm mở câu gợi ý
1Mở — nêu một quan điểm có thể tranh luận, không mô tả我不认为……只有……/很多人以为……,其实……
2Định vị người nói, cho quan điểm một chỗ dựa作为一个……的人,我觉得……
3Lý do thứ nhất, chia thành hai mặt一方面……,另一方面……
4Lý do thứ hai, đẩy ý lên một bậc不但……,还……/甚至……
5Dẫn chứng kiểm được: con số, mốc thời gian, tỉ lệ我平均每天……/有三分之一……
6Dựng ý phản đối lên, để nguyên lời người khác有人说……/家里人希望我……
7Bác lại hoặc chỉnh lại chính ý vừa dựng可我未必……/却……/反而……
8Nhượng bộ một nửa cho khỏi cực đoan当然,……也很重要,不过……
9Chốt bằng một mệnh đề dứt khoát总之,……不是……,而是……
10Câu cuối gửi tới người đọc (tuỳ chọn)无论……,都……/假如你……,别只问……

Từ nối lập luận riêng của HSK 4

  • 总之zǒngzhī

    tóm lại, nói chung

    Chỉ đứng đầu câu chốt, sau khi đã kể xong lý lẽ; dùng giữa đoạn là sai vai

  • 可见kějiàn

    có thể thấy, rõ ràng là

    Dành riêng cho kết luận SUY RA từ điều vừa nói: ……,可见……. Không mở đoạn bằng 可见

  • 不是……,而是……bú shì……, ér shì……

    không phải… mà là…

    Bác một cách hiểu rồi đưa cách hiểu đúng; hai vế phải cùng loại thành phần

  • 反而fǎn'ér

    ngược lại, trái lại

    Chỉ dùng khi kết quả trái với dự đoán, không phải nghĩa mặt khác; đứng sau chủ ngữ

  • què

    nhưng, thế nhưng

    Đứng SAU chủ ngữ và trước động từ, khác 但是 đứng đầu vế: 房租却是另一件事

  • 甚至shènzhì

    thậm chí

    Đẩy ý lên bậc mạnh nhất của một dãy; vế đứng trước bắt buộc phải nhẹ hơn

  • 未必wèibì

    chưa chắc, không nhất thiết

    Phủ định mềm ý người khác vừa nêu; nhẹ và lịch sự hơn 不是 hay 不对

  • 的确díquè

    đúng là, quả thật

    Thừa nhận đối phương có lý trước khi phản bác; hay đi cặp với 但 ở câu sau

  • 无论……,都……wúlùn……, dōu……

    bất kể… đều…

    Vế đầu phải có từ nghi vấn hoặc A还是B; vế sau bắt buộc có 都 hoặc 也

  • 哪怕……,也……nǎpà……, yě……

    dù cho… cũng…

    Nhượng bộ một điều kiện khó, giả định mạnh hơn 虽然: 哪怕只说十分钟

  • 假如……,就……jiǎrú……, jiù……

    giả sử… thì…

    Thiên văn viết hơn 要是; dùng cho giả định chưa xảy ra hoặc không xảy ra được

  • 既然……,就……jìrán……, jiù……

    đã… thì…

    Tiền đề đã là sự thật hai bên đều biết, khác 如果 nêu điều còn chưa chắc

Cụm nêu quan điểm và nhượng bộ dùng lại được

  • 很多人以为……,其实……hěn duō rén yǐwéi……, qíshí……

    nhiều người tưởng…, thật ra…

    Cặp mở bài mạnh nhất; 以为 luôn hàm ý người ta nghĩ vậy nhưng nghĩ sai

  • 我不认为……只有……wǒ bú rènwéi……zhǐyǒu……

    tôi không cho rằng… chỉ có…

    Mở bài hai chiều: phủ định cách nhìn một chiều trước khi bàn cả hai mặt

  • 作为一个……的人zuòwéi yí gè……de rén

    với tư cách một người…

    Cho quan điểm một chỗ dựa; 作为 đi với danh từ chỉ vai, không đi với hành động

  • 根据我的经验gēnjù wǒ de jīngyàn

    theo kinh nghiệm của tôi

    Mở câu dẫn chứng; sau 根据 phải là nguồn cụ thể, không nói 根据我想

  • 对于这个问题duìyú zhège wèntí

    đối với vấn đề này

    Nêu lại chủ đề đang bàn; 对于 dùng với sự việc, nói với người thì dùng 对

  • 当然,……也很重要dāngrán, ……yě hěn zhòngyào

    đương nhiên, … cũng rất quan trọng

    Câu nhượng bộ đặt ngay trước câu chốt, để bài không thành một chiều

  • 这话有道理zhè huà yǒu dàolǐ

    lời này có lý

    Thừa nhận ý đối lập thật lòng; sau đó mới quay lại quan điểm của mình

  • 但我还是要说dàn wǒ háishì yào shuō

    nhưng tôi vẫn muốn nói

    Câu quay về quan điểm của mình sau khi đã nhượng bộ một điểm

  • 我要的不是……,而是……wǒ yào de bú shì……, ér shì……

    điều tôi muốn không phải… mà là…

    Câu chốt dứt khoát, thay cho lời khen chung mà ai cũng viết được

  • 没有标准答案méiyǒu biāozhǔn dá'àn

    không có đáp án chuẩn

    Chốt cho đề so sánh hai lựa chọn, nhưng phải kèm câu nói rõ bạn chọn gì

Công việc tôi muốn làm

Đoạn mẫu 1 — Công việc tôi muốn làm

毕业以后我想当一名中文翻译,而不是留在老家找一份轻松的工作。作为一个从小就喜欢语言的人,我觉得这份工作最适合我。一方面它让我每天都用得上自己的专业,另一方面我能认识很多不同国家的人。不过翻译并不轻松:一场会议下来,我常常连一口水都来不及喝。根据去年在公司实习的经验,好的翻译不但要听得懂,还得把话说得让别人舒服。家里人希望我去银行工作,说那里收入稳定,可我未必愿意为了这两个字放下自己真正想做的事。当然,我也不想三十岁了还每年换一次工作,所以我打算先在公司做三年,再决定要不要自己出来做。假如三十岁以前我还没做出成绩,我也不会觉得这几年浪费了。总之,我要的不是一份看起来好的工作,而是一份让我愿意早点起床的工作。

Bìyè yǐhòu wǒ xiǎng dāng yì míng Zhōngwén fānyì, ér bú shì liú zài lǎojiā zhǎo yí fèn qīngsōng de gōngzuò. Zuòwéi yí gè cóngxiǎo jiù xǐhuan yǔyán de rén, wǒ juéde zhè fèn gōngzuò zuì shìhé wǒ. Yì fāngmiàn tā ràng wǒ měi tiān dōu yòng de shàng zìjǐ de zhuānyè, lìng yì fāngmiàn wǒ néng rènshi hěn duō bùtóng guójiā de rén. Búguò fānyì bìng bù qīngsōng: yì chǎng huìyì xiàlái, wǒ chángcháng lián yì kǒu shuǐ dōu lái bu jí hē. Gēnjù qùnián zài gōngsī shíxí de jīngyàn, hǎo de fānyì búdàn yào tīng de dǒng, hái děi bǎ huà shuō de ràng biérén shūfu. Jiālǐ rén xīwàng wǒ qù yínháng gōngzuò, shuō nàlǐ shōurù wěndìng, kě wǒ wèibì yuànyì wèile zhè liǎng gè zì fàngxià zìjǐ zhēnzhèng xiǎng zuò de shì. Dāngrán, wǒ yě bù xiǎng sānshí suì le hái měi nián huàn yí cì gōngzuò, suǒyǐ wǒ dǎsuàn xiān zài gōngsī zuò sān nián, zài juédìng yào bu yào zìjǐ chūlái zuò. Jiǎrú sānshí suì yǐqián wǒ hái méi zuò chū chéngjì, wǒ yě bú huì juéde zhè jǐ nián làngfèi le. Zǒngzhī, wǒ yào de bú shì yí fèn kàn qǐlái hǎo de gōngzuò, ér shì yí fèn ràng wǒ yuànyì zǎo diǎn qǐchuáng de gōngzuò.

Sau khi tốt nghiệp tôi muốn làm một phiên dịch tiếng Trung, chứ không phải ở lại quê tìm một công việc nhẹ nhàng. Là người từ nhỏ đã thích ngôn ngữ, tôi thấy công việc này phù hợp với mình nhất. Một mặt nó cho tôi dùng được chuyên ngành của mình mỗi ngày, mặt khác tôi được biết nhiều người ở các nước khác nhau. Nhưng phiên dịch không hề nhẹ: xong một buổi họp, tôi thường không kịp uống một hớp nước. Theo kinh nghiệm thực tập ở công ty năm ngoái, một phiên dịch giỏi không chỉ phải nghe hiểu mà còn phải nói sao cho người khác thấy dễ chịu. Người nhà mong tôi vào ngân hàng làm, nói ở đó thu nhập ổn định, nhưng tôi chưa chắc muốn vì hai chữ ấy mà bỏ lại việc mình thật sự muốn làm. Đương nhiên, tôi cũng không muốn ba mươi tuổi rồi mà mỗi năm vẫn đổi việc một lần, nên tôi dự định làm ở công ty ba năm trước, rồi mới quyết định có tự ra làm riêng hay không. Giả sử trước ba mươi tuổi tôi vẫn chưa làm ra thành tích, tôi cũng sẽ không thấy mấy năm này là lãng phí. Tóm lại, điều tôi muốn không phải một công việc trông có vẻ ổn, mà là một công việc khiến tôi muốn dậy sớm.

Đoạn nêu quan điểm khác đoạn kể ở chỗ câu mở phải chọn phe, ở đây chọn ngay bằng dạng rút gọn 而不是. Câu hai nói bạn là ai để ý kiến có chỗ dựa — đúng vai của 作为 (zuòwéi). Ba câu tiếp là ba lý do nặng dần, mở bằng 一方面……另一方面…… rồi hạ xuống một chi tiết nghề rất cụ thể (连一口水都来不及喝). Câu sáu quan trọng nhất: nó dựng ý phản đối lên nguyên lời người nhà rồi bác lại bằng 未必 — người chấm HSK 4 tìm đúng động tác này. Câu bảy nhượng bộ một nửa bằng 当然 cho khỏi cực đoan, câu chốt dùng 总之 gói cả đoạn vào một mệnh đề dứt khoát.

Học ngoại ngữ khó ở đâu

Đoạn mẫu 2 — Học ngoại ngữ khó ở đâu

很多人以为学外语最难的地方是背生词,其实真正难的是敢在别人面前说出来。我学汉语已经三年了,生词记住了三千多个,可是见到中国人还是紧张得说不出话。原因并不复杂:背生词的时候只有我自己,说话的时候要一边听、一边想、一边说。语法虽然也难,不过语法有规则,练得多了自然就会。最难的部分反而没有规则——比如什么时候可以随便一点,什么时候要说得正式一些。中国朋友说“有空一起吃饭”,这句话有时是真的约你,有时只是一句好听的话。这种东西书上没有,只能自己听、自己错、自己记住。所以从去年起我给自己定了一条要求:每周至少跟人说汉语两次,哪怕每次只说十分钟。半年下来,我的水平并没有提高很多,但见到中国人紧张的感觉渐渐没有了。可见学外语真正难的不是书上的东西,而是自己敢不敢先说错一百次。

Hěn duō rén yǐwéi xué wàiyǔ zuì nán de dìfāng shì bèi shēngcí, qíshí zhēnzhèng nán de shì gǎn zài biérén miànqián shuō chūlái. Wǒ xué Hànyǔ yǐjīng sān nián le, shēngcí jìzhù le sān qiān duō gè, kěshì jiàndào Zhōngguó rén háishì jǐnzhāng de shuō bu chū huà. Yuányīn bìng bú fùzá: bèi shēngcí de shíhou zhǐyǒu wǒ zìjǐ, shuōhuà de shíhou yào yìbiān tīng, yìbiān xiǎng, yìbiān shuō. Yǔfǎ suīrán yě nán, búguò yǔfǎ yǒu guīzé, liàn de duō le zìrán jiù huì. Zuì nán de bùfen fǎn'ér méiyǒu guīzé — bǐrú shénme shíhou kěyǐ suíbiàn yìdiǎn, shénme shíhou yào shuō de zhèngshì yìxiē. Zhōngguó péngyou shuō “yǒu kòng yìqǐ chīfàn”, zhè jù huà yǒushí shì zhēn de yuē nǐ, yǒushí zhǐshì yí jù hǎotīng de huà. Zhè zhǒng dōngxi shū shang méiyǒu, zhǐ néng zìjǐ tīng, zìjǐ cuò, zìjǐ jìzhù. Suǒyǐ cóng qùnián qǐ wǒ gěi zìjǐ dìng le yì tiáo yāoqiú: měi zhōu zhìshǎo gēn rén shuō Hànyǔ liǎng cì, nǎpà měi cì zhǐ shuō shí fēnzhōng. Bàn nián xiàlái, wǒ de shuǐpíng bìng méiyǒu tígāo hěn duō, dàn jiàndào Zhōngguó rén jǐnzhāng de gǎnjué jiànjiàn méiyǒu le. Kějiàn xué wàiyǔ zhēnzhèng nán de bú shì shū shang de dōngxi, ér shì zìjǐ gǎn bu gǎn xiān shuō cuò yìbǎi cì.

Nhiều người tưởng chỗ khó nhất khi học ngoại ngữ là học từ mới, thật ra khó nhất là dám nói ra trước mặt người khác. Tôi học tiếng Trung ba năm rồi, từ mới nhớ được hơn ba nghìn, nhưng gặp người Trung Quốc vẫn căng thẳng đến không nói nổi. Lý do không hề phức tạp: lúc học từ mới chỉ có mình tôi, còn lúc nói thì phải vừa nghe, vừa nghĩ, vừa nói. Ngữ pháp tuy cũng khó, nhưng ngữ pháp có quy tắc, luyện nhiều lên là tự khắc biết. Phần khó nhất ngược lại là phần không có quy tắc, chẳng hạn khi nào được nói thoải mái, khi nào phải nói trang trọng hơn một chút. Bạn Trung Quốc nói “rảnh thì ăn cơm cùng nhau nhé”, câu đó có lúc là hẹn thật, có lúc chỉ là một câu nói cho dễ nghe. Loại chuyện này sách không có, chỉ có thể tự nghe, tự sai, tự nhớ. Vì vậy từ năm ngoái tôi tự đặt cho mình một yêu cầu: mỗi tuần nói tiếng Trung với người khác ít nhất hai lần, dù mỗi lần chỉ mười phút. Nửa năm trôi qua, trình độ của tôi cũng chẳng lên được bao nhiêu, nhưng cảm giác căng thẳng khi gặp người Trung Quốc thì dần dần mất đi. Có thể thấy cái khó thật của việc học ngoại ngữ không phải thứ nằm trong sách, mà là mình có dám nói sai một trăm lần trước hay không.

Chủ đề dạng khó ở đâu bắt bạn bác một cách hiểu phổ biến trước, nên câu mở đi theo cặp 很多人以为……,其实…… — mẫu này gần như luôn ăn điểm vì nó cho thấy bạn có ý riêng ngay dòng đầu. Câu hai và ba đưa bằng chứng từ chính mình rồi giải thích cơ chế, tức trả lời câu hỏi vì sao chứ không dừng ở chữ 很难. Câu bốn và năm là bước tinh nhất: 虽然……不过…… loại một nghi phạm là ngữ pháp, rồi 反而 chỉ ra nghi phạm thật — những chỗ không có quy tắc. Câu sáu cắm một ví dụ ngôn ngữ thật (有空一起吃饭) vì lập luận trừu tượng luôn cần ví dụ đứng cạnh. Câu chốt dùng 可见, từ nối riêng cho kết luận suy ra được.

Mạng xã hội với người trẻ

Đoạn mẫu 3 — Mạng xã hội với người trẻ

我不认为网络对年轻人只有坏处,但它的确正在改变我们看世界的方式。先说好处:以前想认识一个中国朋友很难,现在在学习群里半天就能找到几个。我的汉语就是这样练起来的——三年前我在网上认识了两个中国朋友,到现在还常常用微信说话。不过坏处同样明显:手机一拿起来,两三个小时很快就没了。上个月我算了一次,我平均每天看手机四个多小时,比学汉语的时间还长。更麻烦的是,看得越多,越容易觉得别人的生活都比自己好。其实那些照片和直播只是别人愿意让你看见的一部分,甚至有一些根本不是真的。后来我做了两件小事:把手机上的新消息提醒都关了,晚上十点以后就不上网了。这样以后我并没有少认识朋友,反而有了时间跟身边的人好好说话。所以问题不在网络,而在我们有没有能力管住自己的时间。

Wǒ bú rènwéi wǎngluò duì niánqīng rén zhǐyǒu huàichu, dàn tā díquè zhèngzài gǎibiàn wǒmen kàn shìjiè de fāngshì. Xiān shuō hǎochu: yǐqián xiǎng rènshi yí gè Zhōngguó péngyou hěn nán, xiànzài zài xuéxí qún lǐ bàntiān jiù néng zhǎodào jǐ gè. Wǒ de Hànyǔ jiù shì zhèyàng liàn qǐlái de — sān nián qián wǒ zài wǎngshàng rènshi le liǎng gè Zhōngguó péngyou, dào xiànzài hái chángcháng yòng Wēixìn shuōhuà. Búguò huàichu tóngyàng míngxiǎn: shǒujī yì ná qǐlái, liǎng sān gè xiǎoshí hěn kuài jiù méi le. Shàng ge yuè wǒ suàn le yí cì, wǒ píngjūn měi tiān kàn shǒujī sì gè duō xiǎoshí, bǐ xué Hànyǔ de shíjiān hái cháng. Gèng máfan de shì, kàn de yuè duō, yuè róngyì juéde biérén de shēnghuó dōu bǐ zìjǐ hǎo. Qíshí nàxiē zhàopiàn hé zhíbō zhǐshì biérén yuànyì ràng nǐ kànjiàn de yí bùfen, shènzhì yǒu yìxiē gēnběn bú shì zhēn de. Hòulái wǒ zuò le liǎng jiàn xiǎo shì: bǎ shǒujī shang de xīn xiāoxi tíxǐng dōu guān le, wǎnshàng shí diǎn yǐhòu jiù bú shàngwǎng le. Zhèyàng yǐhòu wǒ bìng méiyǒu shǎo rènshi péngyou, fǎn'ér yǒu le shíjiān gēn shēnbiān de rén hǎohǎo shuōhuà. Suǒyǐ wèntí bú zài wǎngluò, ér zài wǒmen yǒu méiyǒu nénglì guǎnzhù zìjǐ de shíjiān.

Tôi không cho rằng mạng chỉ có hại với người trẻ, nhưng nó đúng là đang thay đổi cách chúng ta nhìn thế giới. Nói mặt lợi trước: trước kia muốn làm quen một người bạn Trung Quốc rất khó, giờ vào nhóm học nửa ngày là tìm được mấy người. Tiếng Trung của tôi luyện lên chính bằng cách đó — ba năm trước tôi làm quen hai người bạn Trung Quốc trên mạng, đến giờ vẫn thường nói chuyện bằng WeChat. Nhưng mặt hại cũng rõ ngang nhau: điện thoại vừa nhấc lên là hai ba tiếng biến mất rất nhanh. Tháng trước tôi thử tính một lần, trung bình mỗi ngày tôi xem điện thoại hơn bốn tiếng, dài hơn cả thời gian học tiếng Trung. Rắc rối hơn nữa là càng xem nhiều, càng dễ thấy cuộc sống của người khác đều hơn mình. Thật ra những tấm ảnh và buổi phát trực tiếp đó chỉ là phần người ta muốn cho bạn thấy, thậm chí có một số vốn không phải thật. Sau đó tôi làm hai việc nhỏ: tắt hết thông báo tin mới trên điện thoại, và sau mười giờ tối thì không lên mạng nữa. Làm vậy rồi tôi cũng chẳng biết ít bạn hơn, ngược lại có thời gian nói chuyện tử tế với người bên cạnh mình. Nên vấn đề không nằm ở mạng, mà ở chỗ chúng ta có đủ khả năng quản được thời gian của mình hay không.

Chủ đề này dễ trượt thành bài lên án hoặc bài ca ngợi, nên câu mở đóng khung bằng 我不认为……只有……: phủ định cách nhìn một chiều trước khi bàn cả hai mặt. Bố cục là 先说好处 rồi 不过坏处同样明显, hai khối cân nhau về số câu — khung an toàn nhất cho mọi đề dạng lợi hay hại. Con số ở câu năm (平均每天四个多小时) là chỗ tách bài HSK 4 khỏi bài HSK 3: bạn đưa dữ liệu của mình ra thay vì viết 很多时间. Câu bảy dùng 甚至 đẩy ý lên một bậc, câu chín dùng 反而 chỉ ra kết quả trái dự đoán, câu chốt chuyển đối tượng: lỗi không ở công cụ mà ở người dùng. Lưu ý 社交网络 (shèjiāo wǎngluò) vượt tầm HSK 4 — trong bài chỉ cần 网络.

Sống ở thành phố hay về quê

Đoạn mẫu 4 — Sống ở thành phố hay về quê

大学毕业的时候,几乎每个同学都要回答同样一个问题:留在城市,还是回老家。我选择了留下,不过我从来不觉得回老家是错的选择。城市最大的好处是机会多:同样学中文,在这里我一个月能找到三四次跟中国人说话的机会。房租却是另一件事——我一个月的工资,有三分之一交给了房东。老家的房子是自己的,空气也干净,父母就住在楼下。我的一个同学去年回去了,她说现在每天七点就能吃上晚饭,人也不那么着急了。可她同时也说,在老家想找一份用得上外语的工作,几乎不可能。所以这个问题没有标准答案,重要的是你现在最需要什么。二十几岁我需要机会,哪怕住得小一点、累一点;三十几岁我可能就想要一张安静的桌子了。无论选哪一边,最怕的是一直站在中间,两边的好处都想要。

Dàxué bìyè de shíhou, jīhū měi gè tóngxué dōu yào huídá tóngyàng yí gè wèntí: liú zài chéngshì, háishì huí lǎojiā. Wǒ xuǎnzé le liúxià, búguò wǒ cónglái bù juéde huí lǎojiā shì cuò de xuǎnzé. Chéngshì zuì dà de hǎochu shì jīhuì duō: tóngyàng xué Zhōngwén, zài zhèlǐ wǒ yí gè yuè néng zhǎodào sān sì cì gēn Zhōngguó rén shuōhuà de jīhuì. Fángzū què shì lìng yí jiàn shì — wǒ yí gè yuè de gōngzī, yǒu sān fēn zhī yī jiāo gěi le fángdōng. Lǎojiā de fángzi shì zìjǐ de, kōngqì yě gānjìng, fùmǔ jiù zhù zài lóuxià. Wǒ de yí gè tóngxué qùnián huíqù le, tā shuō xiànzài měi tiān qī diǎn jiù néng chī shàng wǎnfàn, rén yě bú nàme zháojí le. Kě tā tóngshí yě shuō, zài lǎojiā xiǎng zhǎo yí fèn yòng de shàng wàiyǔ de gōngzuò, jīhū bù kěnéng. Suǒyǐ zhège wèntí méiyǒu biāozhǔn dá'àn, zhòngyào de shì nǐ xiànzài zuì xūyào shénme. Èrshí jǐ suì wǒ xūyào jīhuì, nǎpà zhù de xiǎo yìdiǎn, lèi yìdiǎn; sānshí jǐ suì wǒ kěnéng jiù xiǎng yào yì zhāng ānjìng de zhuōzi le. Wúlùn xuǎn nǎ yì biān, zuì pà de shì yìzhí zhàn zài zhōngjiān, liǎngbian de hǎochu dōu xiǎng yào.

Lúc tốt nghiệp đại học, gần như mọi bạn học đều phải trả lời cùng một câu hỏi: ở lại thành phố, hay về quê. Tôi chọn ở lại, nhưng tôi chưa bao giờ thấy về quê là một lựa chọn sai. Cái lợi lớn nhất của thành phố là nhiều cơ hội: cũng là học tiếng Trung, ở đây mỗi tháng tôi tìm được ba bốn lần nói chuyện với người Trung Quốc. Tiền thuê nhà lại là chuyện khác — lương một tháng của tôi có một phần ba đưa cho chủ nhà. Nhà ở quê là nhà của mình, không khí cũng sạch, bố mẹ thì ở ngay dưới nhà. Một bạn học của tôi năm ngoái đã về, bạn ấy nói giờ bảy giờ là được ăn cơm tối, người cũng không còn tất bật như trước. Nhưng bạn ấy đồng thời cũng nói, ở quê mà muốn tìm một việc dùng được ngoại ngữ thì gần như không thể. Vậy nên câu hỏi này không có đáp án chuẩn, quan trọng là bây giờ bạn cần gì nhất. Ngoài hai mươi tuổi tôi cần cơ hội, dù ở chật hơn một chút, mệt hơn một chút; ngoài ba mươi có lẽ tôi sẽ muốn một chiếc bàn yên tĩnh. Chọn bên nào cũng được, đáng sợ nhất là cứ đứng mãi ở giữa, cái lợi của cả hai bên đều muốn có.

Đề so sánh hai lựa chọn có một bẫy: chọn phe rồi dìm phe kia. Câu hai chặn bẫy đó ngay bằng 我从来不觉得回老家是错的选择, sau đó cả đoạn mới đi vào bằng chứng. Bốn câu giữa xếp thành hai cặp đối nhau: cơ hội ở thành phố đối với tiền thuê nhà, nhà ở quê đối với việc làm ở quê. Chữ 却 ở câu bốn là bản lề giữa hai cặp — nhớ 却 đứng sau chủ ngữ, không đứng đầu vế như 但是; còn 三分之一 cho thấy bạn nắm cách nói phân số. Câu sáu mượn lời một người thật rồi câu bảy để chính người đó nói ra mặt hạn chế, nhờ vậy đoạn có hai giọng. Câu mười dùng 无论……都…… chốt bằng một lời cảnh báo.

Thói quen tốt tôi muốn giữ

Đoạn mẫu 5 — Thói quen tốt tôi muốn giữ

我身上的好习惯不多,最想一直保持下去的是每天写五百个汉字。这个习惯是三年前开始的,当时只是为了练字,后来变成了一天里最安静的半个小时。我通常六点半起床,先喝一杯水,然后坐下来写,写完才看手机。写什么并不重要:有时是昨天学的生词,有时只是记一记前一天做错的事。坚持下来最难的不是没时间,而是不想写的那几天。我给自己定了一条要求:再忙也得写,哪怕只写三句。三年下来,我不但汉字写得比以前好看,想问题也比以前清楚。有人问我这样做到底有什么用,我说不出一个具体的答案。但我知道,一个人每天能为自己留出半个小时,这件事已经很有意义了。习惯这东西很奇怪:坚持一个月很难,坚持三年以后,不做反而难受。

Wǒ shēnshàng de hǎo xíguàn bù duō, zuì xiǎng yìzhí bǎochí xiàqù de shì měi tiān xiě wǔbǎi gè Hànzì. Zhège xíguàn shì sān nián qián kāishǐ de, dāngshí zhǐshì wèile liàn zì, hòulái biànchéng le yì tiān lǐ zuì ānjìng de bàn gè xiǎoshí. Wǒ tōngcháng liù diǎn bàn qǐchuáng, xiān hē yì bēi shuǐ, ránhòu zuò xiàlái xiě, xiě wán cái kàn shǒujī. Xiě shénme bìng bú zhòngyào: yǒushí shì zuótiān xué de shēngcí, yǒushí zhǐshì jì yi jì qián yì tiān zuò cuò de shì. Jiānchí xiàlái zuì nán de bú shì méi shíjiān, ér shì bù xiǎng xiě de nà jǐ tiān. Wǒ gěi zìjǐ dìng le yì tiáo yāoqiú: zài máng yě děi xiě, nǎpà zhǐ xiě sān jù. Sān nián xiàlái, wǒ búdàn Hànzì xiě de bǐ yǐqián hǎokàn, xiǎng wèntí yě bǐ yǐqián qīngchu. Yǒu rén wèn wǒ zhèyàng zuò dàodǐ yǒu shénme yòng, wǒ shuō bu chū yí gè jùtǐ de dá'àn. Dàn wǒ zhīdao, yí gè rén měi tiān néng wèi zìjǐ liú chū bàn gè xiǎoshí, zhè jiàn shì yǐjīng hěn yǒu yìyì le. Xíguàn zhè dōngxi hěn qíguài: jiānchí yí gè yuè hěn nán, jiānchí sān nián yǐhòu, bú zuò fǎn'ér nánshòu.

Thói quen tốt ở tôi không nhiều, thứ tôi muốn giữ mãi nhất là mỗi ngày viết năm trăm chữ Hán. Thói quen này bắt đầu từ ba năm trước, hồi đó chỉ để luyện chữ, sau này thành ra nửa tiếng yên tĩnh nhất trong ngày. Tôi thường dậy lúc sáu giờ rưỡi, uống một cốc nước trước, rồi ngồi xuống viết, viết xong mới xem điện thoại. Viết gì cũng không quan trọng: có lúc là từ mới hôm qua học, có lúc chỉ là ghi lại một chút những việc mình làm sai hôm trước. Điều khó nhất khi giữ thói quen không phải là không có thời gian, mà là mấy ngày mình không muốn viết. Tôi tự đặt cho mình một yêu cầu: bận mấy cũng phải viết, dù chỉ viết ba câu. Ba năm trôi qua, chữ Hán của tôi không chỉ viết đẹp hơn trước mà nghĩ chuyện gì cũng rõ ràng hơn trước. Có người hỏi tôi làm vậy rốt cuộc có ích gì, tôi không nói ra được một câu trả lời cụ thể. Nhưng tôi biết, một người mỗi ngày dành được nửa tiếng cho chính mình, việc đó đã rất có ý nghĩa. Thói quen là thứ rất lạ: giữ được một tháng thì khó, giữ được ba năm rồi thì không làm lại thấy khó chịu.

Đoạn thói quen ở HSK 4 không còn là bản thời gian biểu như ở HSK 3 — nó phải trả lời được câu hỏi vì sao thói quen này đáng giữ. Câu năm quay ngoặt sang khó khăn thật: không phải thiếu thời gian mà là những ngày không muốn viết. Câu sáu đưa ra quy tắc riêng của bạn bằng mẫu 再……也得…… — chú ý 得 ở đây đọc děi nghĩa là phải, khác 得 (de) nối bổ ngữ trong 写得比以前好看 ngay câu sau. Câu tám nhận thẳng là mình không có câu trả lời cụ thể, rồi câu chín mới nói ra giá trị thật; kiểu nhận yếu điểm trước, khẳng định sau nghe thật hơn nhiều so với tự khen từ đầu đến cuối.

Một quyết định tôi từng hối hận

Đoạn mẫu 6 — Một quyết định tôi từng hối hận

大学报名的时候,我做了一个到今天还让我难受的决定:我没有选中文,选了一个“好找工作”的专业。当时家里人都说学语言以后不好找工作,我没有反对,也没有说出自己真正想学的是什么。结果四年里我的成绩一直很一般,因为我对那些课根本不感兴趣。毕业以后我又做了两年那个专业的工作,每天下班都觉得那不是自己想过的生活。二十六岁我才重新开始学中文,比同学晚了整整六年。有人说,晚一点开始也没什么不好,做过别的工作,才更清楚自己要什么。这话有道理,我的确因为那两年更明白自己的方向了。但我还是要说:那六年如果用在中文上,我今天的水平会完全不一样。从这件事我学到的教训不是“不能听家里人的话”,而是一定要把自己的想法说出来。假如你现在正要做一个大决定,别只问哪条路更安全,也要问哪条路是自己想走的。

Dàxué bàomíng de shíhou, wǒ zuò le yí gè dào jīntiān hái ràng wǒ nánshòu de juédìng: wǒ méiyǒu xuǎn Zhōngwén, xuǎn le yí gè “hǎo zhǎo gōngzuò” de zhuānyè. Dāngshí jiālǐ rén dōu shuō xué yǔyán yǐhòu bù hǎo zhǎo gōngzuò, wǒ méiyǒu fǎnduì, yě méiyǒu shuō chū zìjǐ zhēnzhèng xiǎng xué de shì shénme. Jiéguǒ sì nián lǐ wǒ de chéngjì yìzhí hěn yìbān, yīnwèi wǒ duì nàxiē kè gēnběn bù gǎn xìngqù. Bìyè yǐhòu wǒ yòu zuò le liǎng nián nàge zhuānyè de gōngzuò, měi tiān xiàbān dōu juéde nà bú shì zìjǐ xiǎng guò de shēnghuó. Èrshíliù suì wǒ cái chóngxīn kāishǐ xué Zhōngwén, bǐ tóngxué wǎn le zhěngzhěng liù nián. Yǒu rén shuō, wǎn yìdiǎn kāishǐ yě méi shénme bù hǎo, zuò guo bié de gōngzuò, cái gèng qīngchu zìjǐ yào shénme. Zhè huà yǒu dàolǐ, wǒ díquè yīnwèi nà liǎng nián gèng míngbai zìjǐ de fāngxiàng le. Dàn wǒ háishì yào shuō: nà liù nián rúguǒ yòng zài Zhōngwén shang, wǒ jīntiān de shuǐpíng huì wánquán bù yíyàng. Cóng zhè jiàn shì wǒ xuédào de jiàoxun bú shì “bù néng tīng jiālǐ rén de huà”, ér shì yídìng yào bǎ zìjǐ de xiǎngfǎ shuō chūlái. Jiǎrú nǐ xiànzài zhèng yào zuò yí gè dà juédìng, bié zhǐ wèn nǎ tiáo lù gèng ānquán, yě yào wèn nǎ tiáo lù shì zìjǐ xiǎng zǒu de.

Lúc đăng ký vào đại học, tôi đã đưa ra một quyết định đến hôm nay vẫn làm tôi khó chịu: tôi không chọn tiếng Trung, mà chọn một ngành “dễ tìm việc”. Hồi đó người nhà đều nói học ngôn ngữ sau này khó tìm việc, tôi không phản đối, cũng không nói ra thứ mình thật sự muốn học là gì. Kết quả là suốt bốn năm điểm của tôi cứ bình bình, vì tôi hoàn toàn không thấy hứng thú với những môn đó. Sau khi tốt nghiệp tôi còn làm hai năm công việc thuộc ngành ấy, ngày nào tan làm cũng thấy đó không phải cuộc sống mình muốn sống. Hai mươi sáu tuổi tôi mới bắt đầu học lại tiếng Trung, muộn hơn bạn học đúng sáu năm. Có người nói, bắt đầu muộn một chút cũng chẳng có gì không tốt, làm qua công việc khác rồi mới rõ mình muốn gì. Lời đó có lý, tôi cũng đúng là nhờ hai năm ấy mà hiểu rõ hơn hướng đi của mình. Nhưng tôi vẫn muốn nói: sáu năm đó nếu dùng cho tiếng Trung, trình độ hôm nay của tôi sẽ hoàn toàn khác. Bài học tôi rút ra từ chuyện này không phải là “không được nghe lời người nhà”, mà là nhất định phải nói ra suy nghĩ của mình. Giả sử bạn đang định đưa ra một quyết định lớn, đừng chỉ hỏi đường nào an toàn hơn, hãy hỏi thêm đường nào là đường mình muốn đi.

Đoạn kể chuyện hối hận cần cả trục thời gian lẫn trục lập luận. Trục thời gian rất rõ: 大学报名的时候 → 四年里 → 毕业以后 → 二十六岁 → 今天. Trục lập luận nằm ở ba câu áp cuối: câu sáu đưa ý bào chữa của người khác, câu bảy thừa nhận nó có lý bằng 这话有道理 cộng 的确, câu tám mới bác lại bằng 但我还是要说. Nhượng bộ rồi mới phản bác là động tác đáng điểm nhất của bậc này. Câu mười chuyển sang ngôi thứ hai để lời khuyên đến được người đọc. Cả đoạn không dùng chữ 后悔 lần nào — cụm 到今天还让我难受 đã đủ, và đó là kỹ năng diễn đạt vòng khi từ mình cần vượt tầm.

Ba lỗi làm đoạn văn dài mất điểm

Câu quá dài vì nối tất cả bằng dấu phẩy. Tiếng Việt cho phép ghép ba bốn mệnh đề vào một câu, tiếng Trung viết thì không. Dấu hiệu nhận ra: một câu của bạn có trên hai mươi lăm chữ Hán và trên ba động từ chính. Cách chữa nhanh nhất là cắt ở chỗ đổi chủ ngữ, rồi mở câu mới bằng một từ nối như 不过、于是、结果. Cũng đừng dồn cả 虽然, 但是 và 却 vào một câu — tiếng Trung chọn 虽然……,但是…… hoặc 虽然……,却……, không dùng cả ba cùng lúc.

Dịch từng chữ từ tiếng Việt và lạm dụng 因为……所以……. Hai lỗi dịch hay gặp nhất: đặt bổ ngữ thời lượng trước động từ (phải viết 我学中文学了三年, không phải 我三年学中文), và dịch "tôi nghĩ rằng" thành 我想 trong câu nêu quan điểm, trong khi 我认为 hoặc 我觉得 mới đúng vì 我想 nghiêng về nghĩa muốn. Lỗi thứ ba là dùng 因为……所以…… cho mọi quan hệ nhân quả: một đoạn mười câu chỉ nên có tối đa một cặp. Kể chuỗi việc dẫn tới kết quả thì dùng 于是 hay 结果, kết luận rút từ lý lẽ vừa nêu thì dùng 可见 hay 总之.

Viết xong hãy để bài nghỉ mười phút rồi soi theo năm câu hỏi: câu mở là mệnh đề tranh luận được hay chỉ là câu ai cũng đồng ý; đã có ít nhất một dẫn chứng kiểm được (con số, tỉ lệ, một lần cụ thể) chưa; đã có câu dựng ý phản đối rồi bác lại chưa; câu nhượng bộ có nằm ngay trước câu chốt không; có từ nào vượt tầm 3.245 từ HSK 4 không. Muốn luyện nét chữ thì vào luyện viết chữ Hán, muốn xem cách triển khai ý dài thì đọc bài đọc HSK 4.

Câu hỏi thường gặp

Đoạn văn HSK 4 nên viết bao nhiêu câu, bao nhiêu chữ?

Tám đến mười một câu, tức khoảng hai trăm sáu mươi đến ba trăm chữ Hán — dài hơn đoạn HSK 3 chừng một nửa. Lý do không phải để nhiều chữ hơn: một đoạn có quan điểm cần đủ chỗ cho bốn động tác là nêu ý, dẫn chứng, nhượng bộ và chốt. Nếu đề giới hạn ngắn hơn, hãy bỏ dẫn chứng thứ hai chứ đừng bỏ câu nhượng bộ.

Có nhất thiết phải nêu quan điểm không, hay chỉ tả là đủ?

Từ HSK 4 trở lên thì phải nêu. Đề dạng 你怎么看 (nǐ zěnme kàn) hay 谈谈你的看法 (tán tan nǐ de kànfǎ) đòi một mệnh đề có thể đúng hoặc sai, tức là tranh luận được. Câu 网络对我们很重要 không phải quan điểm vì không ai phản đối; câu 问题不在网络,而在我们有没有能力管住自己的时间 mới là quan điểm. Mẹo kiểm nhanh: nếu không ai có thể phản đối câu chốt của bạn thì đó chưa phải quan điểm.

Một đoạn nên dùng bao nhiêu từ nối là đủ?

Ba đến bốn chỗ nối cho đoạn mười câu, và mỗi từ nối chỉ dùng một lần. Rắc 而且, 因此, 总之 vào gần hết các câu thì người đọc thấy ngay là học thuộc mẫu. Hãy dành từ nối cho bốn vị trí có việc thật: câu chia hai mặt, câu đẩy ý lên bậc, câu phản bác và câu chốt. Những câu chỉ kể thêm chi tiết thì để trần — tiếng Trung không cần nối dày như tiếng Việt.

Câu nhượng bộ nên đặt ở đâu trong đoạn?

Ngay trước câu chốt, không đặt giữa đoạn và không đặt cuối. Đặt giữa thì người đọc mất dấu quan điểm của bạn; đặt cuối thì bài kết bằng ý của người khác. Trật tự chạy được là: nêu ý, lý do, dựng ý phản đối, bác lại, nhượng bộ một nửa bằng 当然,……也很重要, rồi chốt. Và phải nhượng bộ thật: nhường một điểm đúng của phía kia, không nhường bằng câu vô nghĩa như 每个人都不一样.

Làm sao biết mình có dùng từ vượt tầm 3.245 từ HSK 4 không?

Đừng tin bảng từ chép tay trên mạng vì phần lớn vẫn theo khung HSK cũ. Ví dụ 后悔 (hòuhuǐ), 放弃 (fàngqì), 客气 (kèqi), 邻居 (línjū) đều đã sang HSK 5, còn 社交 (shèjiāo), 实话 (shíhuà) thuộc HSK 7-9. Cách chắc chắn là tra từ đó ở từ điển rồi xem nó nằm ở chương nào của lộ trình HSK 4. Không có trong tầm thì diễn đạt vòng: chưa nhớ 后悔 thì viết 到今天还让我难受 là xong.

Học đủ 3.245 từ và cấu trúc HSK 4 theo lộ trìnhTừ vựng, ngữ pháp và bài tập xếp theo chương, để mỗi đoạn văn bạn viết đều nằm trong tầm từ đã học.

Hanbeego Team

Biên soạn bởi đội ngũ Hanbeego — học tiếng Trung hiệu quả, mỗi ngày 15 phút.

Đọc tiếp

Bài viết liên quan