Luyện viết09 tháng 8, 20269 phút đọc

Đoạn văn mẫu HSK 5 theo chủ đề: sáu đoạn và cách viết chuẩn

Sáu đoạn văn mẫu HSK 5 theo chủ đề, mỗi đoạn kèm phân tích cấu trúc bậc năm đã dùng, gợi ý từ thay thế, bảng đối chiếu bậc bốn với bậc năm và ba lỗi hay gặp.

Lên HSK 5, số câu trong một đoạn gần như không tăng — cái tăng là số mệnh đề bên trong mỗi câu. Bài bậc bốn nối mười câu ngắn bằng 但是 và 所以 vẫn chạy được; bài bậc năm phải gói hai ba ý vào một câu mà người đọc không mất mạch, gộp ba câu tả một sự vật thành một danh ngữ có định ngữ dài, và thay được từ vừa dùng. Sáu đoạn mẫu dưới đây nằm trong phạm vi 4.316 từ HSK 5, mỗi đoạn kèm phần mổ xẻ chỉ rõ cấu trúc nào đang làm việc ở câu nào.

Cách dùng cho hiệu quả: đọc tên chủ đề, tự viết đoạn của mình trước, rồi mới mở đoạn mẫu ra đối chiếu ba thứ — số mệnh đề mỗi câu, cặp liên từ đã chọn, và những từ bạn lặp mà đoạn mẫu không lặp. Mỗi đoạn mẫu có nút phát âm đọc liền cả đoạn, nghe hai lượt là bắt được chỗ ngắt của câu phức. Cần tra cấu trúc thì mở ngữ pháp HSK 5.

Bài bám chuẩn HSK 3.0: HSK 5 gồm 4.316 từ cộng dồn và 71 điểm ngữ pháp riêng của bậc này. Mọi câu tiếng Trung trong bài chỉ dùng từ trong phạm vi đó — nên bạn sẽ thấy 印象最深 thay cho 难忘, vì 难忘 đã sang HSK 6. Muốn học đủ từ và cấu trúc thì theo lộ trình HSK 5.

Bậc năm làm được gì mà bậc bốn chưa

Khác biệt không nằm ở chủ đề — đề HSK 5 vẫn hỏi về công việc, thói quen, xã hội. Nó nằm ở công cụ nối ý. Bậc bốn có bộ liên từ đủ dùng nhưng thô: 虽然, 但是, 因为, 所以, 如果. Bậc năm cấp một bộ tinh hơn, mỗi cái một vai riêng không thay nhau được, cộng thêm hai kỹ thuật bậc bốn hầu như không đụng tới: định ngữ dài đặt trước danh từ, và trạng từ ngữ khí cài giữa câu để lộ thái độ.

Việc cần làm trong đoạnBậc bốn thường dừng ởBậc năm phải làm được
Nối hai ý ngược nhau虽然……,但是……尽管……,可是……/即使……,也……
Chỉ hệ quả rút ra được因为……,所以…………,因而……/……,从而……
Đặt điều kiện如果……,就……一旦……,就……/除非……,否则……
Nói mục đích của hành động为了…………,以便……
Đưa ra góc nhìn của mình我觉得……在……看来/从……来看/拿……来说
Mô tả một sự vậtBa câu ngắn rời nhauMột định ngữ dài đặt trước danh từ
Lộ thái độ với sự việc很, 非常毕竟, 居然, 总算, 干脆, 倒是, 不免

Cặp liên từ và từ nối riêng của bậc năm

  • 随着suízhe

    cùng với, theo đà

    Mở câu bằng một xu hướng đang diễn ra rồi mới nói hệ quả; sau 随着 là danh ngữ, không phải một mệnh đề đầy đủ

  • 尽管……,可是……jǐnguǎn……, kěshì……

    mặc dù… nhưng…

    Vế đầu phải là sự thật đã xảy ra; văn viết hơn 虽然. Đã có 可是 thì bỏ 却, tiếng Trung không chồng hai từ cùng vai

  • 即使……,也……jíshǐ……, yě……

    cho dù… vẫn…

    Khác 尽管 ở chỗ vế đầu là giả định chưa xảy ra; vế sau bắt buộc có 也

  • 一旦……,就……yídàn……, jiù……

    một khi… thì…

    Điều kiện có tính bước ngoặt, kéo theo thay đổi lớn; không dùng cho việc lặp hằng ngày như 如果

  • 除非……,否则……chúfēi……, fǒuzé……

    trừ phi… nếu không thì…

    Nêu điều kiện duy nhất; vế sau luôn là hậu quả xấu. Muốn vế sau tích cực thì đổi thành 除非……,才……

  • ……,因而…………, yīn'ér……

    vì vậy, nhờ đó

    Thay cả cặp 因为……所以…… bằng một chữ; vế trước nêu nguyên nhân, không cần thêm 因为 nữa

  • 从而cóng'ér

    từ đó, qua đó

    Kết quả là mục đích đạt được nhờ hành động vế trước, hai vế cùng chủ ngữ; khác 因而 chỉ nêu hệ quả khách quan

  • ……,以便…………, yǐbiàn……

    để tiện cho, nhằm để

    Mục đích đặt sau hành động, giọng trang trọng, rất hợp email và báo cáo; đừng dùng trong lời nói hằng ngày

  • 加上jiāshàng

    thêm vào đó, cộng thêm

    Chồng thêm một nguyên nhân nữa lên nguyên nhân vừa nêu, rồi mới tới kết quả ở vế cuối

  • 毕竟bìjìng

    dù sao thì, suy cho cùng

    Nhắc một sự thật ai cũng biết để bênh vực hoặc giảm nhẹ; đứng sau chủ ngữ

  • 居然jūrán

    không ngờ, vậy mà lại

    Kết quả nằm ngoài dự đoán, có thể tốt hoặc xấu; nếu kết quả đến sau nhiều công sức thì dùng 总算 mới đúng

  • 干脆gāncuì

    dứt khoát, thôi thì

    Bỏ hẳn cách làm cũ để chọn cách gọn nhất, thường sau khi đã thử mà không xong

Cụm đóng khung quan điểm và chuyển ý

  • 在……看来zài……kànlái

    theo cách nhìn của…

    Cắm quan điểm xuống, thay cho 我觉得 đã dùng nhàm; giữa hai chấm là người, không phải sự việc

  • 从……来看cóng……láikàn

    nhìn từ…, xét theo…

    Kết luận dựa trên bằng chứng vừa nêu; giữa hai chấm là căn cứ như số liệu, một lần trải nghiệm, một góc độ

  • 拿……来说ná……láishuō

    lấy… ra mà nói

    Rút một mặt ra bàn kỹ khi ý quá rộng; câu sau bắt buộc phải nói tiếp về đúng mặt đó

  • 跟……相比gēn……xiāngbǐ

    so với…

    Mở câu so sánh hai lựa chọn; mốc so sánh đứng ngay đầu câu nên rõ hơn 比 rất nhiều

  • 到……为止dào……wéizhǐ

    tính đến…, cho đến…

    Chốt một mốc thời gian để báo cáo tiến độ; rất hay dùng mở đầu câu trong email công việc

  • X归X,Y归YX guī X, Y guī Y

    cái nào ra cái nấy

    Tách hai chuyện đừng lẫn vào nhau, giọng nói chuyện tự nhiên: 学费归学费,进步归进步

  • 倒是dàoshì

    thì lại, ngược lại thì

    Bác nhẹ ý người khác vừa nêu, mềm và lịch sự hơn 但是; đứng sau chủ ngữ

  • 不免bùmiǎn

    khó tránh khỏi

    Kết quả không mong muốn nhưng tất yếu; văn viết hơn 难免, sau nó là cụm động từ chứ không phải danh từ

  • 总算zǒngsuàn

    rốt cuộc cũng, cuối cùng cũng

    Chờ lâu và tốn công mới có kết quả; khác 终于 ở chỗ hàm ý vừa đủ, chưa hẳn trọn vẹn

  • 一向yíxiàng

    xưa nay vẫn, vốn dĩ

    Nếp cũ kéo dài tới hiện tại; nói về tần suất lặp lại thì phải đổi sang 时常 hoặc 偶尔

  • 尤其yóuqí

    nhất là, đặc biệt là

    Rút một trường hợp nổi bật ra khỏi nhóm vừa kể; luôn cần một nhóm đứng trước làm nền

Nêu quan điểm về một hiện tượng xã hội

Đoạn mẫu 1 — Người già trong thời của điện thoại thông minh

随着付钱的方式越来越“聪明”,不少商店已经不收现金了,老人却常常被挡在门外。上个月我陪奶奶去医院,她带着现金排了半个多小时的队,最后还是得让我用手机扫二维码。有人说这是老人自己不愿意学,我倒是觉得,问题一大半出在软件上:字太小,要按的地方太多,一步按错就得从头再来。尽管手机的新功能一年比一年多,可是真正需要的“老年模式”却很少有人认真做。在我看来,一个方便的社会,不应该只对年轻人方便。办法其实不难:把字放大,把没用的功能收起来;社区每个月开一次课,教老人在手机上买车票、交电费。尊重老人不是嘴上说说,而是让他们自己也能把事情办完。

Suízhe fùqián de fāngshì yuè lái yuè “cōngming”, bùshǎo shāngdiàn yǐjīng bù shōu xiànjīn le, lǎorén què chángcháng bèi dǎng zài mén wài. Shàng gè yuè wǒ péi nǎinai qù yīyuàn, tā dài zhe xiànjīn pái le bàn gè duō xiǎoshí de duì, zuìhòu háishì děi ràng wǒ yòng shǒujī sǎo èrwéimǎ. Yǒu rén shuō zhè shì lǎorén zìjǐ bú yuànyì xué, wǒ dàoshì juéde, wèntí yí dàbàn chū zài ruǎnjiàn shang: zì tài xiǎo, yào àn de dìfang tài duō, yí bù àn cuò jiù děi cóng tóu zài lái. Jǐnguǎn shǒujī de xīn gōngnéng yì nián bǐ yì nián duō, kěshì zhēnzhèng xūyào de “lǎonián móshì” què hěn shǎo yǒu rén rènzhēn zuò. Zài wǒ kànlái, yí gè fāngbiàn de shèhuì, bù yīnggāi zhǐ duì niánqīng rén fāngbiàn. Bànfǎ qíshí bù nán: bǎ zì fàngdà, bǎ méi yòng de gōngnéng shōu qǐlái; shèqū měi gè yuè kāi yí cì kè, jiāo lǎorén zài shǒujī shang mǎi chēpiào, jiāo diànfèi. Zūnzhòng lǎorén bú shì zuǐ shang shuōshuo, ér shì ràng tāmen zìjǐ yě néng bǎ shìqing bàn wán.

Cùng với việc cách trả tiền ngày càng “thông minh”, không ít cửa hàng đã không nhận tiền mặt nữa, còn người già thì thường bị chặn lại ngoài cửa. Tháng trước tôi đưa bà đi bệnh viện, bà cầm tiền mặt xếp hàng hơn nửa tiếng, cuối cùng vẫn phải để tôi dùng điện thoại quét mã. Có người bảo đó là do người già không chịu học, tôi thì lại thấy hơn một nửa vấn đề nằm ở phần mềm: chữ quá nhỏ, chỗ phải bấm quá nhiều, bấm sai một bước là phải làm lại từ đầu. Mặc dù tính năng mới của điện thoại năm sau nhiều hơn năm trước, nhưng cái “chế độ người già” thật sự cần thì lại rất ít nơi làm cho tử tế. Theo tôi thấy, một xã hội tiện lợi thì không nên chỉ tiện cho người trẻ. Cách làm thật ra không khó: phóng to chữ, cất bớt những tính năng không dùng đến; khu dân cư mỗi tháng mở một buổi, dạy người già mua vé xe và trả tiền điện trên điện thoại. Tôn trọng người già không phải là nói suông, mà là để họ tự mình cũng làm xong được việc của mình.

Đoạn nêu quan điểm bậc năm mở bằng 随着 chứ không mở bằng 现在: 随着 buộc câu đầu chứa một xu hướng đang chuyển động rồi mới tới hậu quả, nên dòng đầu đã có lực. Câu hai không lý luận mà kể một lần cụ thể — bậc năm vẫn cần bằng chứng, chỉ khác là bằng chứng gói gọn trong một câu ba mệnh đề. Câu ba dùng 倒是 bác nhẹ ý vừa dẫn, mềm hơn 但是 nhiều, rồi bung ba vế song song sau dấu hai chấm. Câu bốn nhượng bộ bằng 尽管……可是……, câu năm mới cắm quan điểm xuống bằng 在我看来. Câu chốt bỏ hẳn chủ ngữ 我 và dùng 不是……而是……, nhờ vậy đoạn kết bằng một mệnh đề chứ không bằng một cảm nhận.

  • Muốn nhấn mạnh kết quả đi ngược hẳn dự đoán thì đổi 倒是 (dàoshì) thành 反而 (fǎn'ér, HSK 4); giữ 倒是 khi chỉ muốn bác nhẹ lời người khác.
  • Nếu vế đầu là giả định chưa xảy ra thì phải đổi 尽管 (jǐnguǎn) thành 即使 (jíshǐ) — 尽管 chỉ đi với sự thật đã có.
  • Chữ 老人 (lǎorén) lặp bốn lần: câu giữa đổi thành 老年人 (lǎoniánrén), câu cuối bỏ hẳn chủ ngữ.
  • Muốn nói tới hành động chăm lo cụ thể thay vì thái độ thì đổi 尊重 (zūnzhòng) thành 关怀 (guānhuái) hoặc 照顾 (zhàogù, HSK 2).

Kể một trải nghiệm còn nhớ rõ

Đoạn mẫu 2 — Lần đầu thi hùng biện tiếng Trung

去年秋天,我第一次报名参加学校的汉语演讲比赛,那件事到今天印象还是最深的。我一向不敢在很多人面前说话,报了名才发现自己给自己找了个大麻烦。比赛前一个星期,我每天早上六点起来,把要讲的话反复练,练到自己都听烦了。真正站到台上,我的手还是一直在出汗,前两句说得又快又轻,台下的人都往前坐了坐。第三句以后我干脆不看纸了,只看着一位对我笑的同学,声音慢慢就找回来了。说完的时候大家鼓掌,我居然拿了第三名。从那次比赛来看,最难的不是把汉语说得多好,而是先把“不敢”两个字放下。

Qùnián qiūtiān, wǒ dì yī cì bàomíng cānjiā xuéxiào de Hànyǔ yǎnjiǎng bǐsài, nà jiàn shì dào jīntiān yìnxiàng háishì zuì shēn de. Wǒ yíxiàng bù gǎn zài hěn duō rén miànqián shuōhuà, bào le míng cái fāxiàn zìjǐ gěi zìjǐ zhǎo le gè dà máfan. Bǐsài qián yí gè xīngqī, wǒ měi tiān zǎoshang liù diǎn qǐlái, bǎ yào jiǎng de huà fǎnfù liàn, liàn dào zìjǐ dōu tīng fán le. Zhēnzhèng zhàn dào tái shang, wǒ de shǒu háishì yìzhí zài chūhàn, qián liǎng jù shuō de yòu kuài yòu qīng, tái xià de rén dōu wǎng qián zuò le zuò. Dì sān jù yǐhòu wǒ gāncuì bú kàn zhǐ le, zhǐ kàn zhe yí wèi duì wǒ xiào de tóngxué, shēngyīn mànmàn jiù zhǎo huílái le. Shuō wán de shíhou dàjiā gǔzhǎng, wǒ jūrán ná le dì sān míng. Cóng nà cì bǐsài lái kàn, zuì nán de bú shì bǎ Hànyǔ shuō de duō hǎo, ér shì xiān bǎ “bù gǎn” liǎng gè zì fàngxià.

Mùa thu năm ngoái, lần đầu tiên tôi đăng ký dự cuộc thi hùng biện tiếng Trung của trường, chuyện đó đến hôm nay vẫn là chuyện tôi nhớ rõ nhất. Xưa nay tôi vốn không dám nói trước đông người, đăng ký xong mới phát hiện mình vừa tự chuốc lấy một rắc rối lớn. Một tuần trước cuộc thi, ngày nào tôi cũng dậy lúc sáu giờ sáng, đem những lời định nói ra luyện đi luyện lại, luyện đến mức chính mình cũng chán nghe. Lúc thật sự đứng lên sân khấu, tay tôi vẫn cứ ra mồ hôi, hai câu đầu nói vừa nhanh vừa nhỏ, người ngồi dưới đều nhích lên phía trước. Từ câu thứ ba trở đi tôi dứt khoát không nhìn giấy nữa, chỉ nhìn một bạn học đang cười với mình, giọng nói dần dần trở lại. Lúc nói xong mọi người vỗ tay, tôi không ngờ lại được giải ba. Nhìn từ lần thi đó, cái khó nhất không phải là nói tiếng Trung hay đến đâu, mà là đặt hai chữ “không dám” xuống trước đã.

Bài kể chuyện bậc năm không kể theo thứ tự thời gian suông. Câu hai đưa 一向 dựng nền tính cách cũ, nhờ vậy mọi chuyện phía sau mới thành bước ngoặt. Hai chỗ đắt nhất đều là bổ ngữ trạng thái với 得: 练到自己都听烦了 và 说得又快又轻 — bậc bốn hay viết 我很紧张, bậc năm tả cái làm bạn nhận ra mình đang căng. Câu năm dùng 干脆 đánh dấu quyết định bỏ hẳn cách cũ, câu sáu dùng 居然 cho kết quả bật lên là bất ngờ chứ không phải công sức, câu chốt gói cả đoạn bằng 从……来看. Lưu ý 难忘 đã sang HSK 6 nên câu mở viết 印象还是最深的, cách nói này còn tự nhiên hơn.

  • Nếu kết quả đến sau nhiều tháng khổ luyện chứ không bất ngờ thì đổi 居然 (jūrán) thành 总算 (zǒngsuàn).
  • Từ 一向 (yíxiàng) nói nếp cũ kéo dài; nếu ý bạn là tần suất lặp lại thì phải đổi thành 时常 (shícháng) hoặc 偶尔 (ǒu'ěr).
  • Đừng thay 干脆 (gāncuì) bằng 索性 (suǒxìng) — từ đó nằm ở HSK 7-9, ngoài phạm vi 4.316 từ.
  • Chữ 比赛 (bǐsài) xuất hiện bốn lần: hai lần giữa đoạn thay bằng 那次 hoặc bỏ trống, người đọc vẫn hiểu.

So sánh hai lựa chọn

Đoạn mẫu 3 — Tự học ở nhà hay đi học lớp

跟报培训班相比,自己在家学最大的好处是时间自由,学费也省下来了。我从三级开始就是一个人学的,每天晚上一个半小时,两年下来也过了四级。可问题在于,没有人给我改句子,同一个错误我重复了两三年,自己却一直看不出来。今年三月我干脆报了一个小班,一星期两次课,老师第一节课就把我说错了三年的一个句子改了过来。学费归学费,进步归进步,这笔钱我花得不后悔。当然,报了班也不等于可以放松:课上听老师讲,课下自己练,少了哪一半都不行。除非你每天都能自己坐下来,否则再好的老师也帮不了你。

Gēn bào péixùnbān xiāngbǐ, zìjǐ zài jiā xué zuì dà de hǎochu shì shíjiān zìyóu, xuéfèi yě shěng xiàlái le. Wǒ cóng sān jí kāishǐ jiù shì yí gè rén xué de, měi tiān wǎnshang yí gè bàn xiǎoshí, liǎng nián xiàlái yě guò le sì jí. Kě wèntí zài yú, méiyǒu rén gěi wǒ gǎi jùzi, tóng yí gè cuòwù wǒ chóngfù le liǎng sān nián, zìjǐ què yìzhí kàn bu chūlái. Jīnnián sān yuè wǒ gāncuì bào le yí gè xiǎo bān, yì xīngqī liǎng cì kè, lǎoshī dì yī jié kè jiù bǎ wǒ shuō cuò le sān nián de yí gè jùzi gǎi le guòlái. Xuéfèi guī xuéfèi, jìnbù guī jìnbù, zhè bǐ qián wǒ huā de bù hòuhuǐ. Dāngrán, bào le bān yě bù děngyú kěyǐ fàngsōng: kè shang tīng lǎoshī jiǎng, kè xià zìjǐ liàn, shǎo le nǎ yí bàn dōu bù xíng. Chúfēi nǐ měi tiān dōu néng zìjǐ zuò xiàlái, fǒuzé zài hǎo de lǎoshī yě bāng bu liǎo nǐ.

So với đi học lớp, cái lợi lớn nhất của việc tự học ở nhà là thời gian tự do, học phí cũng tiết kiệm được. Tôi từ cấp ba đã là học một mình, mỗi tối một tiếng rưỡi, hai năm trôi qua cũng qua được cấp bốn. Nhưng vấn đề là ở chỗ không ai sửa câu cho tôi, cùng một lỗi tôi lặp lại suốt hai ba năm mà tự mình chẳng nhận ra. Tháng ba năm nay tôi dứt khoát đăng ký một lớp nhỏ, một tuần hai buổi, ngay buổi đầu cô giáo đã sửa cho tôi một câu mà tôi nói sai suốt ba năm. Học phí là chuyện học phí, tiến bộ là chuyện tiến bộ, khoản tiền này tôi tiêu mà không thấy tiếc. Đương nhiên, đăng ký lớp rồi cũng không có nghĩa là được thả lỏng: trên lớp nghe cô giảng, ngoài lớp tự luyện, thiếu nửa nào cũng không được. Trừ phi ngày nào bạn cũng tự ngồi xuống được, nếu không thì thầy cô giỏi đến mấy cũng không giúp nổi bạn.

Đề so sánh hai lựa chọn ở bậc năm không cho phép chia đôi đoạn thành hai khối lợi và hại rồi thôi. Câu mở đặt mốc so sánh ngay đầu bằng 跟……相比, câu hai đưa số liệu của chính mình, đến câu ba mới quay đầu bằng 可问题在于 — chỗ ngoặt này là thứ bậc bốn hay thiếu. Câu bốn có một định ngữ dài đúng chất bậc năm: 我说错了三年的一个句子, cả mệnh đề đặt trước danh từ thay vì tách thành câu riêng. Câu năm dùng X归X,Y归Y tách hai chuyện khỏi lẫn nhau, câu chốt đóng bằng 除非……否则……, tức nêu điều kiện duy nhất chứ không phán bên nào hơn. Lưu ý 自学 nằm ở HSK 6, bậc năm viết 自己在家学.

  • Muốn rút một mặt ra bàn kỹ thay vì so hai bên thì đổi 跟……相比 thành 拿……来说 (ná……láishuō).
  • Các từ 灵活, 反馈, 进度 đều nằm ngoài 4.316 từ; ở bậc năm viết 时间自由, 老师给我改, 学到哪儿了 là đủ nghĩa.
  • Nếu muốn giọng nhẹ hơn 后悔 (hòuhuǐ) thì dùng 可惜 (kěxī) — cả hai đều thuộc HSK 5.
  • Cặp 除非……,否则…… luôn kéo theo hậu quả xấu; muốn vế sau tích cực thì đổi thành 除非……,才……

Viết email trang trọng gửi thầy cô

Đoạn mẫu 4 — Email xin lùi hạn nộp báo cáo

尊敬的王老师:您好!我是三班的李娜。这学期的读书报告本来说好这周五交,可是我从上周开始一直发烧,前天去医院看了病,医生让我在家休息几天。到今天为止,报告已经写完了一大半,附件里是我现在写好的部分,请您先看一看。想请您把交的时间往后推三天,以便我把最后一部分改好再交给您。这样给您带来了麻烦,实在对不起。要是您这周有空,我想去办公室问您两个问题。祝您工作顺利!学生 李娜 六月十日

Zūnjìng de Wáng lǎoshī: Nín hǎo! Wǒ shì sān bān de Lǐ Nà. Zhè xuéqī de dúshū bàogào běnlái shuō hǎo zhè zhōuwǔ jiāo, kěshì wǒ cóng shàng zhōu kāishǐ yìzhí fāshāo, qiántiān qù yīyuàn kàn le bìng, yīshēng ràng wǒ zài jiā xiūxi jǐ tiān. Dào jīntiān wéizhǐ, bàogào yǐjīng xiě wán le yí dàbàn, fùjiàn lǐ shì wǒ xiànzài xiě hǎo de bùfen, qǐng nín xiān kàn yi kàn. Xiǎng qǐng nín bǎ jiāo de shíjiān wǎng hòu tuī sān tiān, yǐbiàn wǒ bǎ zuìhòu yí bùfen gǎi hǎo zài jiāo gěi nín. Zhèyàng gěi nín dài lái le máfan, shízài duìbuqǐ. Yàoshi nín zhè zhōu yǒu kòng, wǒ xiǎng qù bàngōngshì wèn nín liǎng gè wèntí. Zhù nín gōngzuò shùnlì! Xuésheng Lǐ Nà liù yuè shí rì.

Kính gửi cô Vương: Cô có khỏe không ạ! Em là Lý Na lớp ba. Bài báo cáo đọc sách học kỳ này vốn hẹn nộp thứ sáu tuần này, nhưng em sốt liên tục từ tuần trước, hôm kia đã đi bệnh viện khám, bác sĩ bảo em nghỉ ở nhà mấy ngày. Tính đến hôm nay, báo cáo đã viết xong hơn một nửa, trong tệp đính kèm là phần em viết được đến giờ, mong cô xem trước giúp em. Em muốn xin cô cho lùi hạn nộp ba ngày, để em sửa xong phần cuối rồi mới nộp cho cô. Việc này gây phiền phức cho cô, em thật sự xin lỗi. Nếu tuần này cô rảnh, em muốn qua văn phòng hỏi cô hai câu. Chúc cô làm việc thuận lợi! Học sinh Lý Na, ngày mười tháng sáu.

Thư trang trọng bậc năm có năm phần cố định: xưng hô 尊敬的……, giới thiệu mình, nêu tình huống, đưa đề nghị, chốt lời chúc kèm chữ ký và ngày. Chỗ dễ mất điểm nhất là phần đề nghị: 我要推迟三天 nghe như thông báo, phải viết 想请您把交的时间往后推三天 mới đúng vai người xin. Hai cấu trúc gánh cả bức thư là 到……为止 để báo tiến độ và ……,以便…… để nói mục đích. Đại từ 您 phải giữ nhất quán, không nửa chừng rơi về 你. Câu kết đừng chép 此致敬礼 từ mẫu trên mạng: 敬礼 thuộc HSK 7-9 và giọng quá cũ, 祝您工作顺利 vừa trong tầm vừa tự nhiên.

  • Các từ 提交 và 抱歉 nằm ở HSK 6; bậc năm viết 交给您 và 实在对不起.
  • Muốn nói mục đích đứng sau hành động theo giọng đời thường hơn thì đổi ……,以便…… thành ……,为的是……
  • Nếu email gửi công ty chứ không gửi thầy cô thì đổi 尊敬的王老师 thành 尊敬的李经理, và câu chốt đổi thành 期待您的回复.
  • Nhớ đặt 附件 (fùjiàn) ngay trong câu nói về nội dung; viết một câu 附件在下面 tách riêng là kiểu dịch từng chữ.

Trình bày ưu và nhược điểm

Đoạn mẫu 5 — Làm việc ở nhà lợi và hại

这几年在家工作的人越来越多,好处和问题也一起出来了。好处很实在:不用每天在路上花两个小时,也不用担心堵车,省下来的时间够我学一小时汉语。加上公司少租一层楼,成本也下来了,因而不少公司愿意让大家一星期在家两天。问题同样明显:家里的干扰太多,孩子一进门,工作和生活就分不开了。视频会议看着方便,可是很多话在电脑上说不清楚,同事之间的关系不免慢慢变远。从我自己这一年来看,在家工作的效率高不高,关键不在公司,而在你能不能给自己定一个时间:几点开始,几点关电脑。总体来说,一半在家、一半去公司也许最好,两边的好处都能留一点。

Zhè jǐ nián zài jiā gōngzuò de rén yuè lái yuè duō, hǎochu hé wèntí yě yìqǐ chūlái le. Hǎochu hěn shízài: bú yòng měi tiān zài lù shang huā liǎng gè xiǎoshí, yě bú yòng dānxīn dǔchē, shěng xiàlái de shíjiān gòu wǒ xué yì xiǎoshí Hànyǔ. Jiāshàng gōngsī shǎo zū yì céng lóu, chéngběn yě xiàlái le, yīn'ér bùshǎo gōngsī yuànyì ràng dàjiā yì xīngqī zài jiā liǎng tiān. Wèntí tóngyàng míngxiǎn: jiā lǐ de gānrǎo tài duō, háizi yí jìn mén, gōngzuò hé shēnghuó jiù fēn bu kāi le. Shìpín huìyì kàn zhe fāngbiàn, kěshì hěn duō huà zài diànnǎo shang shuō bu qīngchu, tóngshì zhī jiān de guānxì bùmiǎn mànmàn biàn yuǎn. Cóng wǒ zìjǐ zhè yì nián lái kàn, zài jiā gōngzuò de xiàolǜ gāo bu gāo, guānjiàn bú zài gōngsī, ér zài nǐ néng bu néng gěi zìjǐ dìng yí gè shíjiān: jǐ diǎn kāishǐ, jǐ diǎn guān diànnǎo. Zǒngtǐ lái shuō, yí bàn zài jiā, yí bàn qù gōngsī yěxǔ zuì hǎo, liǎng biān de hǎochu dōu néng liú yìdiǎn.

Mấy năm nay người làm việc ở nhà ngày càng nhiều, cái lợi và cái phiền cũng lộ ra cùng lúc. Cái lợi rất thiết thực: không phải mỗi ngày mất hai tiếng trên đường, cũng không phải lo tắc đường, thời gian tiết kiệm được đủ cho tôi học tiếng Trung một tiếng. Thêm vào đó công ty thuê ít đi một tầng, chi phí cũng giảm xuống, vì vậy không ít công ty sẵn sàng cho mọi người ở nhà hai ngày mỗi tuần. Vấn đề cũng rõ ngang thế: ở nhà quá nhiều thứ quấy rầy, con vừa bước vào cửa là công việc với đời sống không tách ra được nữa. Họp trực tuyến trông thì tiện, nhưng nhiều điều nói qua máy tính không rõ được, quan hệ giữa các đồng nghiệp khó tránh khỏi dần xa nhau. Nhìn từ chính một năm qua của tôi, làm ở nhà có năng suất hay không, mấu chốt không nằm ở công ty mà ở chỗ bạn có tự đặt được cho mình một mốc giờ hay không: mấy giờ bắt đầu, mấy giờ tắt máy tính. Nói chung, nửa ở nhà nửa lên công ty có lẽ là tốt nhất, cái lợi của cả hai bên đều giữ lại được một phần.

Dạng ưu nhược điểm dễ thành hai danh sách gạch đầu dòng viết liền. Đoạn này chống lại bằng cách cho mỗi khối một câu nhãn ngắn — 好处很实在 và 问题同样明显 — rồi mới trải chi tiết, nhờ vậy người đọc luôn biết mình đang ở nửa nào. Câu ba là mẫu bậc năm điển hình: 加上 chồng thêm nguyên nhân thứ hai, 因而 mới dẫn ra hệ quả, ba mệnh đề mà vẫn thẳng mạch. Câu năm dùng 不免 cho một kết quả không ai muốn nhưng khó tránh, chỗ này bậc bốn hay viết 有一点不好. Câu sáu chuyển trọng tâm bằng 关键不在……,而在…… — động tác đưa bài từ kể sang bàn luận. Lưu ý 办公 và 屏幕 đều thuộc HSK 6, nên đoạn viết 在家工作 và 在电脑上.

  • Muốn giọng nói chuyện hơn thì đổi 不免 (bùmiǎn) thành 难免 (nánmiǎn, HSK 4); 不免 thiên về văn viết.
  • Nếu kết luận dựa trên một góc nhìn cụ thể thì thay 总体来说 bằng 从……来看 để câu chốt có căn cứ rõ hơn.
  • Đừng dùng 何况 để chồng nguyên nhân — từ đó thuộc HSK 7-9; ở bậc năm giữ 加上 (jiāshàng).
  • Chữ 公司 lặp ba lần: câu giữa đổi thành 老板 (lǎobǎn, HSK 3) hoặc 单位 tuỳ ngữ cảnh.

Nêu một vấn đề rồi đề xuất cách làm

Đoạn mẫu 6 — Rác từ bao bì đồ ăn giao tận nơi

我们楼下放垃圾的地方,每天晚上都是外卖包装:一个盒子、两个塑料袋,还有一双没打开过的筷子。一个人一天扔一份看起来不多,三百个人加在一起,一年就是十万份。这些东西大都不好回收,最后大部分变成了土和水的污染。要说这全怪年轻人不愿意做饭,我看未必;真正能改的地方在餐厅和送外卖的公司。第一,点餐的时候把“不要筷子”放在最前面,让不要的人不必自己去找。第二,餐厅少用一层包装,省下来的钱让价格便宜一点,愿意选它的顾客自然就多了。第三,社区可以试一试押金:自己带饭盒来买的人便宜两块钱,坚持一个月再给点小奖励。这几年大家一直提倡垃圾分类,可是除非餐厅和顾客一起动,否则分得再好,也只是把问题往后推。

Wǒmen lóu xià fàng lājī de dìfang, měi tiān wǎnshang dōu shì wàimài bāozhuāng: yí gè hézi, liǎng gè sùliàodài, hái yǒu yì shuāng méi dǎkāi guo de kuàizi. Yí gè rén yì tiān rēng yí fèn kàn qǐlái bù duō, sānbǎi gè rén jiā zài yìqǐ, yì nián jiù shì shí wàn fèn. Zhèxiē dōngxi dàdū bù hǎo huíshōu, zuìhòu dà bùfen biànchéng le tǔ hé shuǐ de wūrǎn. Yào shuō zhè quán guài niánqīng rén bú yuànyì zuòfàn, wǒ kàn wèibì; zhēnzhèng néng gǎi de dìfang zài cāntīng hé sòng wàimài de gōngsī. Dì yī, diǎn cān de shíhou bǎ “bú yào kuàizi” fàng zài zuì qiánmiàn, ràng bú yào de rén bú bì zìjǐ qù zhǎo. Dì èr, cāntīng shǎo yòng yì céng bāozhuāng, shěng xiàlái de qián ràng jiàgé piányi yìdiǎn, yuànyì xuǎn tā de gùkè zìrán jiù duō le. Dì sān, shèqū kěyǐ shì yi shì yājīn: zìjǐ dài fànhé lái mǎi de rén piányi liǎng kuài qián, jiānchí yí gè yuè zài gěi diǎn xiǎo jiǎnglì. Zhè jǐ nián dàjiā yìzhí tíchàng lājī fēnlèi, kěshì chúfēi cāntīng hé gùkè yìqǐ dòng, fǒuzé fēn de zài hǎo, yě zhǐ shì bǎ wèntí wǎng hòu tuī.

Chỗ để rác dưới nhà chúng tôi, tối nào cũng toàn bao bì đồ ăn giao tận nơi: một cái hộp, hai cái túi nhựa, còn thêm một đôi đũa chưa bóc. Một người một ngày vứt một suất trông thì chẳng bao nhiêu, ba trăm người cộng lại, một năm là mười vạn suất. Những thứ này phần lớn khó tái chế, cuối cùng đa phần biến thành ô nhiễm cho đất và nước. Nói rằng tất cả là lỗi của người trẻ lười nấu cơm thì tôi thấy chưa chắc; chỗ thật sự sửa được nằm ở nhà hàng và các công ty giao đồ ăn. Thứ nhất, khi đặt món hãy đưa mục “không lấy đũa” lên trên cùng, để người không cần khỏi phải tự đi tìm. Thứ hai, nhà hàng bớt đi một lớp bao bì, tiền tiết kiệm được đem hạ giá xuống một chút, khách chịu chọn nơi đó tự khắc sẽ đông hơn. Thứ ba, khu dân cư có thể thử cách đặt cọc: ai tự mang hộp cơm tới mua thì rẻ hơn hai đồng, giữ được một tháng thì thưởng thêm chút ít. Mấy năm nay mọi người vẫn kêu gọi phân loại rác, nhưng trừ phi nhà hàng và khách hàng cùng chuyển động, nếu không thì phân kỹ đến mấy cũng chỉ là đẩy vấn đề về sau.

Dạng nêu vấn đề rồi đề xuất khó nhất trong sáu dạng vì nó cần bốn tầng chứ không phải hai. Tầng một tả hiện trạng bằng vật cụ thể, không tả bằng tính từ. Tầng hai nhân con số lên để vấn đề đổi quy mô — một câu số học đơn giản thuyết phục hơn cả đoạn than phiền. Tầng ba đắt nhất: câu 要说这全怪年轻人不愿意做饭,我看未必 bác một cách quy kết dễ dãi trước khi đề xuất; thiếu câu này bài chỉ còn là danh sách lời khuyên. Tầng bốn đánh số 第一, 第二, 第三 để ba đề xuất không lẫn nhau, câu chốt dùng 除非……否则…… nêu điều kiện duy nhất. Từ 小区 và 栋 đều thuộc HSK 7-9, nên đoạn viết 我们楼下 và đếm theo người.

  • Từ 一次性 nằm ở HSK 6; bậc năm viết 用一次就扔的 (yòng yí cì jiù rēng de) là đủ rõ.
  • Khi chủ thể khuyến khích bằng lợi ích cụ thể thì đổi 提倡 (tíchàng) thành 鼓励 (gǔlì); 提倡 hợp với chủ trương chung.
  • Chữ 垃圾 (lājī) lặp nhiều thì câu sau đổi thành 这些东西 hoặc 这些包装.
  • Muốn nhấn rằng vấn đề bùng lên ngay khi một điều kiện xảy ra thì mở câu bằng 一旦……,就…… thay cho 除非……,否则……

Ba lỗi kéo bài bậc năm xuống bậc bốn

Ba câu dưới đây là câu viết kém, đặt ở đây để bạn nhận mặt chứ không phải để chép. Cả ba đều đúng ngữ pháp — đó mới là chỗ nguy hiểm: bài không sai mà vẫn bị xếp xuống một bậc.

LỗiCâu viết kém, đừng chép lạiVì sao bị hạ bậc
Chồng ba bốn từ nối vào một câu虽然他很忙,但是他却每天还是坚持学习汉语,所以他的水平提高得很快。虽然, 但是, 却, 还是 cùng gánh một quan hệ nhượng bộ, trong khi tiếng Trung chỉ chọn một cặp. Câu còn lặp chủ ngữ 他 ba lần và đóng bằng 所以, mức của bậc ba.
Mọi quan hệ nhân quả đều 因为……所以……因为在家工作可以省时间,所以很多公司让员工在家上班。Không sai chữ nào nhưng đứng nguyên ở tầm HSK 3. Bậc năm đòi 因而 hoặc 从而 cho hệ quả rút ra, và vế đầu phải nói rõ tiết kiệm được cái gì, bao nhiêu.
Ba câu ngắn rời cùng nói một sự vật这个软件不方便。这个软件的字很小。老人不会用这个软件。Lặp 这个软件 ba lần, không có định ngữ nào dài quá hai chữ. Bậc năm gộp cả ba thành một danh ngữ, dùng 得 dẫn bổ ngữ trạng thái để nêu mức độ.
Ba câu trên sau khi sửa về đúng tầm bậc năm

尽管他很忙,可是每天仍旧坚持学汉语,水平提高得比谁都快。在家工作省下了路上的两个小时,加上房租也少了,因而不少公司愿意让员工一星期在家两天。那个字小得让老人看不清的软件,本来就不是为他们做的。

Jǐnguǎn tā hěn máng, kěshì měi tiān réngjiù jiānchí xué Hànyǔ, shuǐpíng tígāo de bǐ shéi dōu kuài. Zài jiā gōngzuò shěng xià le lù shang de liǎng gè xiǎoshí, jiāshàng fángzū yě shǎo le, yīn'ér bùshǎo gōngsī yuànyì ràng yuángōng yì xīngqī zài jiā liǎng tiān. Nàge zì xiǎo de ràng lǎorén kàn bu qīng de ruǎnjiàn, běnlái jiù bú shì wèi tāmen zuò de.

Mặc dù anh ấy rất bận, nhưng ngày nào cũng vẫn kiên trì học tiếng Trung, trình độ lên nhanh hơn bất kỳ ai. Làm việc ở nhà tiết kiệm được hai tiếng đi đường, thêm nữa tiền thuê văn phòng cũng bớt đi, vì vậy không ít công ty sẵn sàng cho nhân viên ở nhà hai ngày mỗi tuần. Cái phần mềm có chữ nhỏ đến mức người già nhìn không rõ ấy, vốn dĩ đâu phải làm cho họ.

Viết xong hãy để bài nghỉ mười phút rồi soi theo năm câu hỏi. Câu dài nhất của bạn có mấy mệnh đề — dưới hai thì đoạn vẫn ở tầm bậc bốn. Đã có câu nào chứa định ngữ dài hơn năm chữ đặt trước danh từ chưa. Có từ nào lặp quá ba lần mà không thay được không. Cặp liên từ đã chọn có đúng vai chưa, nhất là 尽管 với 即使 và 因而 với 从而. Cuối cùng, có từ nào vượt khỏi 4.316 từ HSK 5 không. Muốn luyện tay viết thì vào luyện viết chữ Hán, muốn xem cách triển khai ý dài thì đọc bài đọc HSK 5.

Câu hỏi thường gặp

Đoạn văn HSK 5 nên viết bao nhiêu câu, bao nhiêu chữ?

Bảy đến chín câu, khoảng ba trăm đến ba trăm năm mươi chữ Hán — không dài hơn đoạn HSK 4 bao nhiêu. Cái tăng là số mệnh đề mỗi câu: câu bậc năm thường gồm hai đến ba mệnh đề nối bằng cặp liên từ, câu bậc bốn chỉ một đến hai. Đoạn tám câu mà câu nào cũng đúng một mệnh đề thì vẫn là bài bậc bốn kéo dài ra.

Người chấm nhìn vào đâu để phân biệt bài bậc năm với bài bậc bốn?

Ba chỗ. Một là cặp liên từ có đúng vai không: 尽管 đi với sự thật, 即使 đi với giả định, 因而 nêu hệ quả khách quan, 从而 nêu kết quả đạt được nhờ hành động vế trước. Hai là đã có định ngữ dài đặt trước danh từ chưa, kiểu 我说错了三年的一个句子. Ba là cách tránh lặp: cùng một sự vật phải gọi được bằng hai ba cách trong một đoạn.

Một đoạn nên dùng bao nhiêu cặp liên từ là vừa?

Hai đến ba cặp cho đoạn tám câu, mỗi cặp chỉ một lần. Nhiều người học thuộc cả bảng rồi rắc 尽管, 一旦, 除非, 从而 vào gần hết các câu, người đọc thấy ngay là đang khoe mẫu. Hãy để dành cặp liên từ cho câu có việc thật: câu nhượng bộ, câu điều kiện bước ngoặt, câu rút hệ quả và câu chốt. Câu chỉ kể thêm chi tiết thì để trần.

Viết email hay thư trang trọng bằng tiếng Trung cần đủ những gì?

Năm phần theo đúng thứ tự: xưng hô 尊敬的……, một câu tự giới thiệu, phần nêu tình huống, phần đề nghị, rồi lời chúc kèm chữ ký và ngày tháng. Giữ 您 nhất quán từ đầu đến cuối. Phần đề nghị mở bằng 想请您…… chứ không phải 我要……, vì bạn đang xin chứ không thông báo. Đừng chép 此致敬礼: 敬礼 thuộc HSK 7-9, còn 祝您工作顺利 vừa trong tầm vừa tự nhiên.

Làm sao biết một từ có vượt tầm 4.316 từ HSK 5 hay không?

Đừng tin bảng từ chép tay trên mạng vì phần lớn vẫn theo khung HSK cũ. Đối chiếu với dữ liệu chuẩn 3.0 thì 自学, 难忘, 提交, 抱歉, 平台, 屏幕, 办公, 一次性, 情绪, 因素 đều đã sang HSK 6; còn 陌生, 并非, 反馈, 何况, 小区, 索性, 界限 nằm ở HSK 7-9. Cách chắc chắn nhất là tra từ đó ở từ điển rồi xem nó thuộc chương nào trong lộ trình HSK 5. Vượt tầm thì diễn đạt vòng: chưa có 难忘 thì viết 印象最深 là xong.

Học đủ 4.316 từ và 71 điểm ngữ pháp HSK 5 theo lộ trìnhTừ vựng, cấu trúc và bài tập xếp theo chương, để mỗi đoạn văn bạn viết đều nằm trong tầm từ đã học.

Hanbeego Team

Biên soạn bởi đội ngũ Hanbeego — học tiếng Trung hiệu quả, mỗi ngày 15 phút.

Đọc tiếp

Bài viết liên quan