Luyện viết09 tháng 8, 20269 phút đọc

Đoạn văn mẫu HSK 6 theo chủ đề: sáu bài luận và cách nâng cấp câu

Sáu đoạn văn mẫu HSK 6 theo chủ đề, kèm phần phân tích cấu trúc văn viết bậc cao và bảng nâng cấp từ khẩu ngữ lên văn viết, để bài luận hết chất nói miệng.

Lên HSK 6, bài viết của bạn không còn thua ở chỗ thiếu từ. Nó thua ở chỗ nghe vẫn như đang nói. Một đoạn bậc 5 có thể đúng hết, nhưng câu nào cũng mở bằng 因为, kết bằng 所以, mọi mệnh đề nối nhau bằng 就. Bậc 6 là nơi tiếng Trung tách văn nói khỏi văn viết: cùng một ý, bạn phải chọn được 便 hay 就, 若 hay 如果, 与 hay 跟. Bài này có sáu đoạn mẫu trong phạm vi 5.456 từ HSK 6, mỗi đoạn kèm phần mổ xẻ cấu trúc và chỗ còn nâng cấp được.

Cách dùng hiệu quả nhất: đọc tên chủ đề, tự viết đoạn của mình trước, rồi mới mở đoạn mẫu ra đối chiếu. Mỗi đoạn mẫu có nút phát âm đọc liền cả đoạn giọng bản xứ — nghe hai lượt là nhận ra ngay câu nào của mình còn nhịp khẩu ngữ. Bảng nâng cấp cách nói dưới đây dùng lại được cho cả sáu chủ đề; cần đối chiếu cấu trúc chính thức thì mở ngữ pháp HSK 6.

Bài bám chuẩn HSK 3.0: HSK 6 gồm 5.456 từ cộng dồn, đã bao gồm 4.316 từ của HSK 5. Một chuyện hay gây hiểu lầm: nhiều từ nghe rất bác học lại không thuộc bậc 6. 提高 nằm ở HSK 2, còn 充分, 优秀, 承担 chỉ là HSK 4; ngược lại 发扬, 优异, 委婉, 语气, 分歧 đã sang HSK 7-9. Muốn học đủ từ và cấu trúc của bậc này thì theo lộ trình HSK 6.

Nâng cấp từ khẩu ngữ lên văn viết

Đây là bảng đáng thuộc nhất của cả bài. Mỗi dòng là một cặp đồng nghĩa mà bậc 5 chỉ biết vế trái, còn bậc 6 phải chọn được vế phải khi bài đòi giọng trang trọng. Lưu ý: đổi sang cột phải không phải lúc nào cũng hay hơn — thư xin việc thì có, đoạn kể chuyện đời thường thì không. Kỹ năng bậc 6 là chọn đúng cột.

Cách nói quen (bậc 4-5)Cách viết bậc 6Điều phải nhớ khi đổi
便 (biàn)便 đứng đúng vị trí của 就, nhưng chỉ dùng trong câu tường thuật; không dùng 便 trong câu ra lệnh hay lời thoại đời thường
如果 / 要是若 (ruò)若 chỉ một âm tiết nên hay đứng ngay đầu vế; vế sau vẫn dùng 就 hoặc 便, không ghép với 那么
听说据说 / 据……据 bắt buộc đi kèm nguồn cụ thể: 据一次调查、据公司的数据; nói trống thì mới dùng 据说
跟 / 和与 (yǔ) / 同 (tóng)与 chủ yếu nối hai danh từ trong văn viết; câu đời thường vẫn nói 我跟你去, không nói 我与你去
因为……因……因 đi với danh từ hoặc cụm rất ngắn: 因天气原因; cả một mệnh đề dài thì vẫn dùng 由于
所以 / 因此因而 / 从而因而 (HSK 5) nhấn quan hệ nhân quả; 从而 (HSK 5) nhấn kết quả nối tiếp mà việc trước tạo điều kiện cho
但是然而 / 可然而 (HSK 4) mở một câu mới và nặng hơn 但是; 可 nối mệnh đề là điểm ngữ pháp bậc 6 nhưng giọng nhẹ hơn
关于……至于……至于 (HSK 6) chuyển sang một mặt KHÁC của cùng chủ đề, luôn mở đầu câu và thường nằm gần cuối đoạn
提高提升提高 (HSK 2) hợp với con số và mức độ; 提升 (HSK 6) thiên văn viết, hay đi với 水平, 能力, 形象
所有……的人都凡是……,都……凡是 bắt buộc có 都 ở vế sau, nhấn ý không trừ trường hợp nào; thiếu 都 là câu hỏng

Bộ công cụ văn viết riêng của HSK 6

  • 便biàn

    liền, thì, bèn

    Bản văn viết của 就; đứng sau chủ ngữ, trước động từ. Chữ này còn đọc pián trong 便宜 — đọc nhầm là mất cả câu

  • ruò

    nếu, nếu như; hình như, có vẻ

    Thay 如果 trong văn viết và thư từ; hay đi với 若有、若不、若需要 rồi mới tới vế sau

  • và, cùng với; cho, tặng

    Nối hai danh từ ngang hàng trong văn viết: 简历与成绩证明. Không dùng thay 跟 trong câu nói chuyện

  • tóng

    cùng, với; giống nhau

    Vừa là giới từ vừa là liên từ văn viết, gần nghĩa 与; hay gặp trong 同……相比

  • ở, tại; hơn, so với

    Gắn ngay sau động từ hoặc tính từ, không đứng riêng: 高于, 低于, 属于, 在于, 位于

  • 至于zhìyú

    còn về, còn đối với

    Chuyển sang một khía cạnh khác của cùng chủ đề; câu mở bằng 至于 rất hợp để dẫn vào phần giải pháp

  • theo, căn cứ vào

    Sau 据 phải là nguồn kiểm được: 据报告, 据数据. Nói 据我想 là sai vì suy nghĩ không phải nguồn

  • yīn

    vì, do

    Dạng rút của 因为, chỉ đi với cụm ngắn: 因天气原因取消. Mệnh đề dài thì dùng 由于

  • 凡是fánshì

    mọi, hễ là, tất cả những gì

    Vế sau bắt buộc có 都: 凡是同意这个方案的人都举手. Câu này mạnh hơn 所有 rất nhiều

  • 就算jiùsuàn

    cho dù, dù rằng

    Giả định nhượng bộ, vế sau bắt buộc có 也: 就算很难,也要试试

  • 时而shí'ér

    lúc thì, đôi khi, thỉnh thoảng

    Dùng theo cặp 时而……,时而…… để tả hai trạng thái thay nhau: 他时而高兴,时而忧愁

  • 不料búliào

    không ngờ, ai ngờ

    Nối hai mệnh đề khi kết quả trái hẳn dự tính; đứng đầu mệnh đề sau, khác 反而 đứng sau chủ ngữ

  • 免得miǎnde

    để tránh, khỏi phải

    Nêu điều xấu muốn tránh, luôn đứng ở vế sau: 你把地址写清楚,免得他找不到

  • 此致cǐzhì

    trân trọng kính báo

    Chỉ dùng ở cuối thư trang trọng, đi cặp cố định với 敬礼 xuống dòng ngay bên dưới

Bình luận một xu hướng xã hội

Đoạn mẫu 1 — Người trẻ thành phố ngày càng ăn ngoài

近几年,城市里的年轻人越来越依赖外卖,一个月做不了几次饭的人并不少。据我所在的公司去年做的一次调查,三十岁以下的同事里,有百分之七十每周至少点四次外卖。有人把这看成年轻人变懒的证据,我却认为,这一现象的本质是时间不够,而不是态度问题。上下班路上两个小时,加班到八点回家,再买菜、做饭、洗碗,这几乎做不到。因而,批评年轻人不进厨房,不如先问一问他们的时间去了哪里。当然,长期吃外卖对身体的影响同样不能忽视,外卖里的油和盐远远多于自己做的菜。至于办法,在我看来不在于劝人做饭,而在于让下班后的两个小时真正属于自己。

Jìn jǐ nián, chéngshì lǐ de niánqīng rén yuèláiyuè yīlài wàimài, yí gè yuè zuò bu liǎo jǐ cì fàn de rén bìng bù shǎo. Jù wǒ suǒzài de gōngsī qùnián zuò de yí cì diàochá, sānshí suì yǐxià de tóngshì lǐ, yǒu bǎi fēn zhī qīshí měi zhōu zhìshǎo diǎn sì cì wàimài. Yǒu rén bǎ zhè kànchéng niánqīng rén biàn lǎn de zhèngjù, wǒ què rènwéi, zhè yí xiànxiàng de běnzhì shì shíjiān bú gòu, ér bú shì tàidù wèntí. Shàng xià bān lù shang liǎng gè xiǎoshí, jiābān dào bā diǎn huí jiā, zài mǎi cài, zuò fàn, xǐ wǎn, zhè jīhū zuò bu dào. Yīn'ér, pīpíng niánqīng rén bú jìn chúfáng, bùrú xiān wèn yi wèn tāmen de shíjiān qù le nǎlǐ. Dāngrán, chángqī chī wàimài duì shēntǐ de yǐngxiǎng tóngyàng bù néng hūshì, wàimài lǐ de yóu hé yán yuǎnyuǎn duō yú zìjǐ zuò de cài. Zhìyú bànfǎ, zài wǒ kàn lái bú zàiyú quàn rén zuò fàn, ér zàiyú ràng xiàbān hòu de liǎng gè xiǎoshí zhēnzhèng shǔyú zìjǐ.

Mấy năm gần đây, người trẻ ở thành phố ngày càng phụ thuộc vào đồ ăn đặt ngoài, người cả tháng không nấu nổi mấy bữa cơm không hề ít. Theo một khảo sát mà công ty tôi làm hồi năm ngoái, trong số đồng nghiệp dưới ba mươi tuổi có bảy mươi phần trăm mỗi tuần đặt đồ ăn ít nhất bốn lần. Có người coi đó là bằng chứng người trẻ lười đi, còn tôi lại cho rằng bản chất của hiện tượng này là thiếu thời gian chứ không phải vấn đề thái độ. Hai tiếng đi lại mỗi ngày, tăng ca đến tám giờ mới về nhà, rồi còn đi chợ, nấu ăn, rửa bát — điều đó gần như không làm nổi. Vì vậy, thay vì phê bình người trẻ không vào bếp, chẳng bằng hỏi trước xem thời gian của họ đã đi đâu. Đương nhiên, ảnh hưởng lâu dài của việc ăn ngoài lên sức khỏe cũng không thể xem nhẹ: dầu và muối trong đồ đặt ngoài nhiều hơn hẳn món mình tự nấu. Còn về cách giải quyết, theo tôi nó không nằm ở chỗ khuyên người ta nấu ăn, mà ở chỗ trả lại hai tiếng sau giờ làm cho chính họ.

Đoạn bình luận xu hướng chạy theo khung: nêu hiện tượng, đưa số liệu, bác cách lý giải dễ dãi, chỉ ra nguyên nhân thật, rồi mới bàn giải pháp. Câu một dựng hiện tượng bằng 越来越 cộng 依赖 (yīlài, HSK 6) — mạnh hơn hẳn 喜欢点外卖 vì nó hàm ý mất khả năng tự làm. Câu hai mở bằng 据 (jù, HSK 6) và một nguồn kiểm được; bậc 5 hay viết 听说 ở đúng chỗ này rồi mất điểm. Câu ba là bản lề: dựng cách hiểu phổ biến lên rồi bác bằng 本质是……,而不是……, cặp buộc bạn nói rõ mình phủ định điều gì. Câu năm dùng 因而 chuyển sang đề nghị, câu bảy dùng 至于 (zhìyú, HSK 6) mở phần giải pháp rồi đóng bằng 不在于……,而在于……. Nâng cấp thêm: đổi 办法 ở câu chốt thành 出路 sẽ đanh hơn.

Lập luận ủng hộ và phản đối

Đoạn mẫu 2 — Công ty có nên cho làm việc tại nhà

我支持公司每周留出两天让员工在家办公,但反对把办公室全部取消。反对在家办公的人常说,人不在眼前就管不住,效率一定下降;这话听起来有理,可我们部门去年的数据并不支持它。每周在家办公两天以后,项目按时完成的比例反而从百分之七十上升到了百分之八十五,因为省下的路上时间被大部分同事用在了工作上。不过我也见过另一种情况:一位新来的同事在家干了三个月,几乎没跟任何人认真说过话,遇到问题也不敢问,最后主动辞职了。可见在家办公真正的风险不在效率,而在新人没有机会熟悉同事。因而我的主张是:要么每周固定两天回办公室,要么给新人安排一位带他的同事,两条至少要做到一条。就算每个人都能管好自己,公司也得先把规则写清楚,免得以后出现问题。

Wǒ zhīchí gōngsī měi zhōu liú chū liǎng tiān ràng yuángōng zài jiā bàngōng, dàn fǎnduì bǎ bàngōngshì quánbù qǔxiāo. Fǎnduì zài jiā bàngōng de rén cháng shuō, rén bú zài yǎnqián jiù guǎn bu zhù, xiàolǜ yídìng xiàjiàng; zhè huà tīng qǐlái yǒu lǐ, kě wǒmen bùmén qùnián de shùjù bìng bù zhīchí tā. Měi zhōu zài jiā bàngōng liǎng tiān yǐhòu, xiàngmù ànshí wánchéng de bǐlì fǎn'ér cóng bǎi fēn zhī qīshí shàngshēng dào le bǎi fēn zhī bāshíwǔ, yīnwèi shěng xià de lù shang shíjiān bèi dà bùfen tóngshì yòng zài le gōngzuò shang. Búguò wǒ yě jiàn guo lìng yì zhǒng qíngkuàng: yí wèi xīn lái de tóngshì zài jiā gàn le sān gè yuè, jīhū méi gēn rènhé rén rènzhēn shuō guo huà, yùdào wèntí yě bù gǎn wèn, zuìhòu zhǔdòng cízhí le. Kějiàn zài jiā bàngōng zhēnzhèng de fēngxiǎn bú zài xiàolǜ, ér zài xīnrén méiyǒu jīhuì shúxī tóngshì. Yīn'ér wǒ de zhǔzhāng shì: yàome měi zhōu gùdìng liǎng tiān huí bàngōngshì, yàome gěi xīnrén ānpái yí wèi dài tā de tóngshì, liǎng tiáo zhìshǎo yào zuòdào yì tiáo. Jiùsuàn měi gè rén dōu néng guǎn hǎo zìjǐ, gōngsī yě děi xiān bǎ guīzé xiě qīngchu, miǎnde yǐhòu chūxiàn wèntí.

Tôi ủng hộ việc công ty mỗi tuần dành ra hai ngày cho nhân viên làm việc tại nhà, nhưng phản đối bỏ hẳn văn phòng. Những người phản đối làm việc tại nhà thường nói, không có ai trước mắt thì không quản được, hiệu suất nhất định sẽ giảm; nghe thì có lý, nhưng số liệu năm ngoái của bộ phận tôi lại không ủng hộ điều đó. Sau khi mỗi tuần làm ở nhà hai ngày, tỉ lệ dự án hoàn thành đúng hạn ngược lại tăng từ bảy mươi phần trăm lên tám mươi lăm phần trăm, vì thời gian đi đường tiết kiệm được đã được phần lớn đồng nghiệp dồn vào công việc. Nhưng tôi cũng từng thấy một tình huống khác: một đồng nghiệp mới vào làm ở nhà ba tháng, gần như chưa nói chuyện tử tế với ai, gặp vấn đề cũng không dám hỏi, cuối cùng chủ động xin nghỉ. Có thể thấy rủi ro thật sự của làm việc tại nhà không nằm ở hiệu suất, mà ở chỗ người mới không có cơ hội làm quen với đồng nghiệp. Vì vậy chủ trương của tôi là: hoặc mỗi tuần cố định hai ngày lên văn phòng, hoặc sắp xếp cho người mới một đồng nghiệp kèm cặp, hai điều đó ít nhất phải làm được một. Cho dù ai cũng tự quản được mình, công ty vẫn phải viết rõ quy tắc trước, để tránh về sau phát sinh vấn đề.

Bài ủng hộ hay phản đối ở bậc 6 không được chọn phe rồi dìm phe kia. Câu một chọn phe nhưng tự giới hạn ngay bằng 但反对……, tức nói rõ mình ủng hộ tới đâu. Câu hai để nguyên lý lẽ phía đối lập rồi bác bằng dữ liệu chứ không bằng cảm nhận. Câu bốn tự đưa ra một ca bất lợi cho chính mình — đây là động tác đáng điểm nhất, vì người viết bậc cao dám nêu bằng chứng ngược. Câu sáu dùng 因而 dẫn vào phương án và đóng gói bằng 要么……,要么…… (yàome, ngữ pháp bậc 6) thay cho 或者 tẻ nhạt; câu bảy khép bằng 就算……也…… cộng 免得 (miǎnde, HSK 6), hai cấu trúc bậc 6 chồng nhau. Chú ý 可 ở câu hai là 可 nối mệnh đề, điểm ngữ pháp riêng của bậc 6, không phải 可以.

Phân tích nguyên nhân và kết quả

Đoạn mẫu 3 — Vì sao thành phố tôi ngày càng tắc

我住的城市这五年多了三十多万辆汽车,路却只修宽了几条,堵车因而不再只出现在早高峰,而是从早堵到晚。表面上看,原因是车太多;往深一层看,是住的地方和上班的地方离得太远。新房子建在城外,公司却几乎全部集中在市中心,几十万人每天早上往同一个方向走,路修得再宽也不够用。堵车带来的不只是迟到:油钱、修车费和迟到被扣的工资加在一起,我一个同事算过,一年要多花八千块。更值得注意的是它带来的第二层后果——路上太堵,家长便把孩子送进离家近但教得一般的学校,孩子的选择因此少了一大半。凡是把原因只归到车多上的方案,都解决不了根本问题。真正要改的,是让上班的地方离住的地方近一些,而不是一年又一年地把马路修宽。

Wǒ zhù de chéngshì zhè wǔ nián duō le sānshí duō wàn liàng qìchē, lù què zhǐ xiū kuān le jǐ tiáo, dǔchē yīn'ér bú zài zhǐ chūxiàn zài zǎo gāofēng, ér shì cóng zǎo dǔ dào wǎn. Biǎomiàn shang kàn, yuányīn shì chē tài duō; wǎng shēn yì céng kàn, shì zhù de dìfang hé shàngbān de dìfang lí de tài yuǎn. Xīn fángzi jiàn zài chéng wài, gōngsī què jīhū quánbù jízhōng zài shì zhōngxīn, jǐ shí wàn rén měi tiān zǎoshang wǎng tóng yí gè fāngxiàng zǒu, lù xiū de zài kuān yě bú gòu yòng. Dǔchē dài lái de bù zhǐ shì chídào: yóuqián, xiūchēfèi hé chídào bèi kòu de gōngzī jiā zài yìqǐ, wǒ yí gè tóngshì suàn guo, yì nián yào duō huā bāqiān kuài. Gèng zhíde zhùyì de shì tā dài lái de dì èr céng hòuguǒ — lù shang tài dǔ, jiāzhǎng biàn bǎ háizi sòng jìn lí jiā jìn dàn jiāo de yìbān de xuéxiào, háizi de xuǎnzé yīncǐ shǎo le yí dàbàn. Fánshì bǎ yuányīn zhǐ guī dào chē duō shang de fāng'àn, dōu jiějué bu liǎo gēnběn wèntí. Zhēnzhèng yào gǎi de, shì ràng shàngbān de dìfang lí zhù de dìfang jìn yìxiē, ér bú shì yì nián yòu yì nián de bǎ mǎlù xiū kuān.

Thành phố tôi ở năm năm nay có thêm hơn ba trăm nghìn chiếc ô tô, trong khi đường chỉ được mở rộng vài tuyến, vì vậy tắc đường không còn chỉ xuất hiện vào giờ cao điểm buổi sáng mà kéo dài từ sáng đến tối. Nhìn bề ngoài, nguyên nhân là xe quá nhiều; nhìn sâu thêm một tầng, đó là chỗ ở và chỗ làm cách nhau quá xa. Nhà mới xây ở ngoài thành phố, còn công ty thì gần như tập trung hết ở trung tâm, mấy trăm nghìn người mỗi sáng đi về cùng một hướng, đường mở rộng đến mấy cũng không đủ. Tắc đường không chỉ kéo theo chuyện đi muộn: tiền xăng, tiền sửa xe và tiền lương bị trừ vì đi muộn cộng lại, một đồng nghiệp của tôi từng tính, mỗi năm mất thêm tám nghìn tệ. Đáng chú ý hơn là hệ quả tầng thứ hai mà nó mang lại — đường tắc quá, phụ huynh liền cho con vào trường gần nhà nhưng dạy chỉ tầm tầm, và lựa chọn của đứa trẻ vì thế ít đi một nửa. Mọi phương án chỉ quy nguyên nhân về chuyện nhiều xe đều không giải quyết được vấn đề gốc. Thứ thật sự phải sửa là làm cho chỗ làm gần chỗ ở hơn, chứ không phải năm này qua năm khác cứ mở rộng mặt đường.

Đoạn nhân quả bậc 6 phải đi được hai tầng, và đoạn này nói thẳng điều đó bằng cặp 表面上看……;往深一层看……: tầng một là nguyên nhân ai cũng thấy, tầng hai là nguyên nhân cấu trúc. Câu một dùng 因而 nối kết quả; câu năm dùng 便 (biàn, HSK 6) thay 就 để hạ giọng xuống mạch tường thuật — đọc lại câu đó với 就 sẽ thấy nó tụt ngay về văn nói. Câu sáu dùng 凡是……,都…… quét sạch cả một loại phương án, việc mà 所有 không làm được vì thiếu sức bao trùm. Ba từ HSK 6 rất hợp chủ đề này: 高峰 (gāofēng) giờ cao điểm, 扣 (kòu) trừ tiền, 层面 (céngmiàn) tầng nấc. Nâng cấp thêm: câu chốt đổi 而不是 thành 而非 là chuẩn văn viết.

Viết một văn bản trang trọng

Đoạn mẫu 4 — Thư xin thực tập gửi công ty

尊敬的李经理: 您好!我叫陈明,是河内国家大学中文系四年级的学生。从贵公司的网站上看到今年的实习招聘信息后,特写此信申请翻译岗位。 在校期间,我的成绩一直排在系里前五名,去年通过了HSK六级考试。大二起我便在一家旅行社做过两个暑假的翻译,陪同过三十多个中国旅游团,因而对接待和翻译的工作已经比较熟悉。附件中是我的简历与成绩证明,若贵公司还需要其他材料,我可以随时提供。 希望您能在方便的时候安排一次面试,我盼望有机会见到您,把这些经历讲得更清楚。 此致 敬礼! 陈明

Zūnjìng de Lǐ jīnglǐ: Nín hǎo! Wǒ jiào Chén Míng, shì Hénèi Guójiā Dàxué Zhōngwénxì sì niánjí de xuésheng. Cóng guì gōngsī de wǎngzhàn shang kàndào jīnnián de shíxí zhāopìn xìnxī hòu, tè xiě cǐ xìn shēnqǐng fānyì gǎngwèi. Zài xiào qījiān, wǒ de chéngjì yìzhí pái zài xì lǐ qián wǔ míng, qùnián tōngguò le HSK liù jí kǎoshì. Dà èr qǐ wǒ biàn zài yì jiā lǚxíngshè zuò guo liǎng gè shǔjià de fānyì, péitóng guo sānshí duō gè Zhōngguó lǚyóutuán, yīn'ér duì jiēdài hé fānyì de gōngzuò yǐjīng bǐjiào shúxī. Fùjiàn zhōng shì wǒ de jiǎnlì yǔ chéngjì zhèngmíng, ruò guì gōngsī hái xūyào qítā cáiliào, wǒ kěyǐ suíshí tígōng. Xīwàng nín néng zài fāngbiàn de shíhou ānpái yí cì miànshì, wǒ pànwàng yǒu jīhuì jiàndào nín, bǎ zhèxiē jīnglì jiǎng de gèng qīngchu. Cǐ zhì Jìnglǐ! Chén Míng

Kính gửi Giám đốc Lý, Chào ông! Tôi tên là Trần Minh, sinh viên năm tư khoa Trung văn Đại học Quốc gia Hà Nội. Sau khi thấy thông tin tuyển thực tập sinh năm nay trên trang web của quý công ty, tôi viết lá thư này để xin ứng tuyển vị trí phiên dịch. Trong thời gian học, kết quả của tôi luôn nằm trong năm người đứng đầu khoa, năm ngoái tôi đã thi đỗ HSK cấp 6. Từ năm thứ hai tôi đã làm phiên dịch trong hai kỳ nghỉ hè tại một công ty du lịch, từng đi cùng hơn ba mươi đoàn khách Trung Quốc, vì vậy công việc tiếp đón và phiên dịch với tôi đã khá quen thuộc. Đính kèm là hồ sơ và giấy chứng nhận kết quả học tập của tôi; nếu quý công ty cần thêm tài liệu khác, tôi có thể cung cấp bất cứ lúc nào. Mong ông sắp xếp giúp một buổi phỏng vấn vào lúc thuận tiện, tôi rất mong có cơ hội được gặp ông để trình bày rõ hơn về những trải nghiệm này. Trân trọng kính chào! Trần Minh

Thư trang trọng là dạng bài mà cột phải của bảng nâng cấp trở thành bắt buộc chứ không còn là lựa chọn. Bốn dấu hiệu của một lá thư đúng chuẩn nằm ngay trong đoạn mẫu. Một, xưng hô 尊敬的 cộng họ cộng chức danh, kết bằng dấu hai chấm rồi xuống dòng viết 您好. Hai, dùng kính ngữ 贵 trước tên đơn vị người nhận: 贵公司, 贵校 — viết 你们公司 là hỏng giọng ngay. Ba, cả thư dùng 便 chứ không dùng 就, 若 chứ không 如果, 与 chứ không 和, và 此 thay 这 trong 特写此信. Bốn, đóng thư bằng cặp cố định 此致 (cǐzhì, HSK 6) xuống dòng rồi 敬礼; 敬礼 thuộc HSK 7-9 nhưng phải nhớ vì hai chữ này luôn đi liền. Nâng cấp thêm: đổi 希望您能 thành 恳请您 (kěnqǐng, HSK 7-9) là đúng giọng đơn từ nhất.

Lỗi phá hỏng thư trang trọng nhanh nhất là chèn một câu khẩu ngữ vào giữa. Cách viết cần tránh: 我特别想去你们公司实习,因为我觉得你们公司特别好 — vừa dùng 你们公司 thay 贵公司, vừa lặp 特别 hai lần, lại nêu lý do bằng cảm nhận suông. Cách viết đạt chuẩn là câu trong đoạn mẫu: 从贵公司的网站上看到今年的实习招聘信息后,特写此信申请翻译岗位 — nêu nguồn tin, nêu mục đích, không nêu cảm xúc.

Tóm tắt rồi nêu quan điểm

Đoạn mẫu 5 — Tóm tắt một báo cáo rồi phản biện

上周读到的一份调查报告称,去年我国成年人平均每天读纸质书不到十分钟,而看手机屏幕的时间超过四个小时,报告由此得出结论:人们越来越不爱读书了。报告所提供的数据我并不怀疑,但它得出的结论未必成立。报告里算作读书的只有纸质书,手机上读的长文章、听的课都没有被算进去;若把这些也算上,人们花在文字上的时间未必比十年前少。当然,我并不否认屏幕上的阅读更碎:十分钟里被打断三次是常有的事,读完往往什么也没留下。因而真正的问题不在读得少,而在读得浅。至于办法,我的做法是每周留出一个不带手机的下午,只读一本书,哪怕只读三十页。

Shàng zhōu dú dào de yí fèn diàochá bàogào chēng, qùnián wǒ guó chéngniánrén píngjūn měi tiān dú zhǐzhì shū bú dào shí fēnzhōng, ér kàn shǒujī píngmù de shíjiān chāoguò sì gè xiǎoshí, bàogào yóucǐ déchū jiélùn: rénmen yuèláiyuè bú ài dúshū le. Bàogào suǒ tígōng de shùjù wǒ bìng bù huáiyí, dàn tā déchū de jiélùn wèibì chénglì. Bàogào lǐ suàn zuò dúshū de zhǐyǒu zhǐzhì shū, shǒujī shang dú de cháng wénzhāng, tīng de kè dōu méiyǒu bèi suàn jìnqù; ruò bǎ zhèxiē yě suàn shang, rénmen huā zài wénzì shang de shíjiān wèibì bǐ shí nián qián shǎo. Dāngrán, wǒ bìng bù fǒurèn píngmù shang de yuèdú gèng suì: shí fēnzhōng lǐ bèi dǎduàn sān cì shì cháng yǒu de shì, dú wán wǎngwǎng shénme yě méi liú xià. Yīn'ér zhēnzhèng de wèntí bú zài dú de shǎo, ér zài dú de qiǎn. Zhìyú bànfǎ, wǒ de zuòfǎ shì měi zhōu liú chū yí gè bú dài shǒujī de xiàwǔ, zhǐ dú yì běn shū, nǎpà zhǐ dú sānshí yè.

Một bản khảo sát tôi đọc tuần trước cho biết, năm ngoái người trưởng thành ở nước tôi trung bình mỗi ngày đọc sách giấy chưa tới mười phút, còn thời gian nhìn màn hình điện thoại thì vượt quá bốn tiếng; từ đó báo cáo rút ra kết luận: người ta ngày càng lười đọc. Số liệu mà báo cáo đưa ra thì tôi không nghi ngờ, nhưng kết luận nó rút ra chưa chắc đã đứng vững. Thứ được báo cáo tính là đọc sách chỉ có sách giấy, còn những bài dài đọc trên điện thoại hay các bài giảng nghe được thì không được tính vào; nếu tính cả những thứ đó, thời gian người ta dành cho chữ nghĩa chưa chắc đã ít hơn mười năm trước. Đương nhiên, tôi không phủ nhận rằng việc đọc trên màn hình vụn hơn: trong mười phút bị ngắt ba lần là chuyện thường, đọc xong thường chẳng còn lại gì. Vì vậy vấn đề thật sự không nằm ở đọc ít, mà ở đọc nông. Còn về cách làm, tôi dành ra mỗi tuần một buổi chiều không mang điện thoại, chỉ đọc một quyển sách, dù chỉ đọc ba mươi trang.

Dạng tóm tắt rồi nêu quan điểm khó nhất ở chỗ phải giữ hai giọng tách bạch: giọng của tài liệu và giọng của bạn. Câu một là phần tóm tắt, và ba dấu hiệu cho biết đó là lời người khác: động từ 称 (chēng, nói rằng), cụm 由此得出结论, và dấu hai chấm dẫn nguyên văn. Từ câu hai mới là giọng bạn, mở bằng công thức nhượng bộ hai vế 数据我并不怀疑,但结论未必成立 — công nhận dữ liệu, bác kết luận. Cụm đáng học nhất là 报告所提供的数据, tức 所 cộng động từ cộng 的: nó biến cả một mệnh đề thành định ngữ và mang giọng văn viết ngay; so 报告提供的数据 với 报告所提供的数据 sẽ thấy chữ 所 nâng cả câu lên. Câu chốt lặp lại cặp 不在……,而在…… nhưng đối lập 少 với 浅, một cặp rất gọn.

So sánh có dẫn chứng

Đoạn mẫu 6 — Đọc trên giấy hay đọc trên màn hình

常有人问我,读书是读纸上的好还是读屏幕上的好,我的答案是:这两种方式解决的不是同一个问题。说到记住内容,纸确实占优势——同一篇文章,我在纸上读完能说出六七件事,在手机上读完常常只剩下两三件。原因大概在于纸摸得到:翻到第几页、内容在左边还是右边,都会成为记忆的线索。可说到学外语,屏幕的方便又是纸比不了的:一个生词按一下就能查到解释,一本中文小说我用手机三周读完,换成纸书恐怕三个月也读不完。因而我现在的做法是:想记住的书买回家读,用来练量的书放在手机里。就算两种都在手边,也不必每本都追求读完;读得慢一点,把有用的句子抄下来,比读完十本却什么也想不起来强得多。

Cháng yǒu rén wèn wǒ, dúshū shì dú zhǐ shang de hǎo háishi dú píngmù shang de hǎo, wǒ de dá'àn shì: zhè liǎng zhǒng fāngshì jiějué de bú shì tóng yí gè wèntí. Shuō dào jìzhù nèiróng, zhǐ quèshí zhàn yōushì — tóng yì piān wénzhāng, wǒ zài zhǐ shang dú wán néng shuō chū liù qī jiàn shì, zài shǒujī shang dú wán chángcháng zhǐ shèng xià liǎng sān jiàn. Yuányīn dàgài zàiyú zhǐ mō de dào: fān dào dì jǐ yè, nèiróng zài zuǒbian háishi yòubian, dōu huì chéngwéi jìyì de xiànsuǒ. Kě shuō dào xué wàiyǔ, píngmù de fāngbiàn yòu shì zhǐ bǐ bu liǎo de: yí gè shēngcí àn yíxià jiù néng chádào jiěshì, yì běn Zhōngwén xiǎoshuō wǒ yòng shǒujī sān zhōu dú wán, huàn chéng zhǐ shū kǒngpà sān gè yuè yě dú bu wán. Yīn'ér wǒ xiànzài de zuòfǎ shì: xiǎng jìzhù de shū mǎi huí jiā dú, yòng lái liàn liàng de shū fàng zài shǒujī lǐ. Jiùsuàn liǎng zhǒng dōu zài shǒubiān, yě búbì měi běn dōu zhuīqiú dú wán; dú de màn yìdiǎn, bǎ yǒuyòng de jùzi chāo xiàlái, bǐ dú wán shí běn què shénme yě xiǎng bu qǐlái qiáng de duō.

Vẫn có người hỏi tôi, đọc sách thì đọc trên giấy hay đọc trên màn hình tốt hơn, câu trả lời của tôi là: hai cách đó giải quyết hai vấn đề khác nhau. Nói về chuyện nhớ nội dung, giấy quả thật chiếm ưu thế — cùng một bài viết, đọc trên giấy xong tôi kể lại được sáu bảy ý, đọc trên điện thoại xong thường chỉ còn lại hai ba ý. Lý do có lẽ nằm ở chỗ giấy sờ được: lật đến trang thứ mấy, nội dung nằm bên trái hay bên phải, tất cả đều thành đầu mối cho trí nhớ. Nhưng nói về chuyện học ngoại ngữ, cái tiện của màn hình lại là thứ giấy không sánh được: một từ mới bấm một cái là tra ra nghĩa, một cuốn tiểu thuyết tiếng Trung tôi đọc bằng điện thoại ba tuần là xong, đổi sang sách giấy thì e ba tháng cũng chưa đọc hết. Vì vậy cách làm hiện giờ của tôi là: sách muốn nhớ thì mua về nhà đọc, sách dùng để luyện số lượng thì để trong điện thoại. Cho dù có sẵn cả hai bên cạnh, cũng không cần cuốn nào cũng cố đọc cho xong; đọc chậm một chút, chép lại những câu dùng được, còn hơn hẳn đọc hết mười cuốn mà chẳng nhớ nổi điều gì.

So sánh ở bậc 6 phải chọn tiêu chí trước rồi mới so, chứ không kể lung tung mỗi bên vài điểm. Đoạn này chọn đúng hai tiêu chí và tuyên bố hẳn ra bằng cặp 说到…… lặp hai lần: 说到记住内容 rồi 可说到学外语. Nhờ vậy hai khối cân nhau và người đọc luôn biết đang so trên trục nào. Mỗi khối kèm một dẫn chứng đếm được: sáu bảy ý so với hai ba ý, ba tuần so với ba tháng — con số là thứ tách bài bậc 6 khỏi bài chỉ toàn tính từ. Câu chốt không chọn bên nào thắng mà chuyển sang tiêu chí thứ ba, dùng 就算……也不必…… để chặn kết luận cực đoan. Nâng cấp thêm: thay 说到 bằng 就……而言 và 这两种方式 bằng 二者, cả hai đều thuộc HSK 7-9.

Định ngữ nhiều lớp và cách nén mệnh đề

Hai kỹ thuật này bậc 5 gần như không dùng, còn bậc 6 thì dùng thường xuyên. Định ngữ nhiều lớp cho phép dồn thông tin vào một danh ngữ thay vì tách thành ba câu ngắn — đây chính là cách tiếng Trung viết cô lại. Vấn đề là thứ tự các lớp cố định, đảo là hỏng ngay.

LớpLoại định ngữVí dụ trong cụm
1Sở hữu, chỉ đơn vị我们学校
2Chỉ định cộng số cộng lượng từ那三位
3Mệnh đề dài, luôn có 的刚从北京回来的
4Tính từ mô tả年轻的
5Chất liệu hoặc chuyên ngành, không có 的中文
6Danh từ trung tâm老师

Ghép sáu lớp lại thành 我们学校那三位刚从北京回来的年轻的中文老师 — một danh ngữ dài mà vẫn đúng vì mỗi lớp đứng đúng chỗ. Quy tắc thực dụng: lớp nào càng gắn với bản chất của danh từ thì càng đứng gần nó (中文 sát 老师 nhất), lớp chỉ nêu hoàn cảnh thì đẩy ra xa. Trong bài luận đừng dùng quá hai lớp có 的 trong cùng một danh ngữ; thấy nghẹt thì tách lớp mệnh đề ra thành câu riêng.

Từ nội dung bậc 6 hay dùng trong bài luận

  • 本质běnzhì

    bản chất, thực chất

    Cặp mạnh nhất để phản biện: ……的本质是……,而不是……; đừng lẫn với 本来 nghĩa vốn dĩ

  • 核心héxīn

    cốt lõi, hạt nhân

    Chỉ điểm trung tâm của một vấn đề: 问题的核心是……. Nặng hơn 重点 và thiên văn viết

  • 因素yīnsù

    nhân tố, yếu tố

    Dùng khi liệt kê nhiều nguyên nhân song song: 影响这件事的因素有三个. Khác 原因 chỉ một lý do trực tiếp

  • 层面céngmiàn

    tầng nấc, phương diện

    Chia bài theo tầng phân tích: 从个人层面看……,从社会层面看……. Rất hợp đoạn nhân quả hai tầng

  • 依赖yīlài

    dựa dẫm, phụ thuộc

    Mang sắc thái tiêu cực, hàm ý mất khả năng tự làm; muốn trung tính thì dùng 依靠

  • 提升tíshēng

    nâng cao, tăng cường; thăng chức

    Bản văn viết của 提高 (vốn chỉ là HSK 2); hay đi với 水平, 能力, 形象, 地位

  • 长远chángyuǎn

    lâu dài, xa

    Chỉ nhìn về tương lai: 长远来看, 长远的打算. Nói về quá khứ dài thì dùng 长期

  • 恰当qiàdàng

    thích hợp, thỏa đáng

    Dùng để đánh giá cách làm, cách nói: 这个建议非常恰当. Trang trọng hơn 合适

  • 认同rèntóng

    đồng tình, thừa nhận, tán đồng

    Đồng ý ở mức quan điểm chứ không phải đồng ý một đề nghị; câu nhượng bộ hay mở bằng 我认同这一点

  • 平衡pínghéng

    cân bằng, thăng bằng

    Vừa là danh từ vừa là động từ: 保持平衡, 平衡工作与生活. Câu chốt kiểu dung hòa rất hay dùng

  • 危机wēijī

    khủng hoảng, nguy cơ

    Chỉ tình thế nguy cấp có thật, không dùng cho rắc rối nhỏ; nặng hơn 问题 nhiều bậc

  • 打断dǎduàn

    ngắt lời, làm gián đoạn

    Dùng cả cho lời nói lẫn cho việc đang làm: 被打断三次. Bị động thì thêm 被 ở trước

  • 屏幕píngmù

    màn hình

    Từ khóa của mọi đề về công nghệ và thói quen đọc; 屏 ở đây đọc píng, không đọc bǐng

  • 岗位gǎngwèi

    vị trí công tác, chức vụ

    Dùng trong đơn từ và thông báo tuyển dụng: 申请翻译岗位. Nói chuyện thường thì dùng 工作

Cách dùng 所 cho đúng: 所 cộng động từ cộng 的, và động từ đó bắt buộc phải là động từ có tân ngữ. Đúng: 报告所提供的数据, 我们所面临的问题, 他所说的话. Sai: 我所来的城市 (来 không có tân ngữ), 所很喜欢的书 (không chèn phó từ mức độ vào giữa), 所提供数据 (thiếu 的). Nhớ thêm một mẹo nhỏ: cụm 我所在的公司 nghĩa là công ty tôi đang làm, dùng thay 我工作的公司 thì nghe chuẩn văn viết ngay.

Ba lỗi kéo bài bậc 6 tụt về bậc 5

Lặp một từ suốt cả đoạn vì không biết cách thay. Tiếng Trung viết tránh lặp bằng ba công cụ, không phải bằng đại từ như tiếng Việt. Một, gọi lại bằng 这一 cộng danh từ khái quát: 这一现象, 这一做法, 这一结论. Hai, dùng 该 cộng danh từ trong văn hành chính: 该公司, 该方案. Ba, lược hẳn chủ ngữ khi hai câu liền nhau cùng chủ ngữ — người Việt không quen bỏ nên hay viết thừa 我 ở đầu mỗi câu.

Chỉ có 因为……所以…… và 但是 làm liên kết. Một đoạn bậc 6 nên có ba đến bốn chỗ nối, mỗi chỗ một công cụ khác nhau và đúng vai của nó: 因而 nối nguyên nhân với kết quả, 从而 nối việc trước với kết quả nó tạo điều kiện, 然而 mở câu đối lập mới, 至于 chuyển sang mặt khác của cùng chủ đề. Bốn từ này không thay nhau được. Lỗi thứ hai là đặt sai vị trí: 然而 và 至于 luôn đứng đầu câu, còn 却 và 反而 luôn đứng sau chủ ngữ — viết 却我们的数据不支持它 là sai trật tự.

Trộn giọng khẩu ngữ vào bài trang trọng. Những chỗ lộ nhanh nhất: 特别, 挺, 好多, 反正, 什么的. Trong bài luận, đổi 特别好 thành 十分理想, 好多人 thành 不少人, 反正 thành 无论如何. Ngược lại cũng là lỗi: nhồi 便, 若, 与 vào đoạn kể chuyện đời thường sẽ thành cứng và giả. Quy tắc chọn giọng: đề 谈谈你的看法 thì viết nửa trang trọng; đề viết thư, đơn hay báo cáo thì trang trọng hẳn; đề kể lại trải nghiệm thì giữ giọng tự nhiên.

Viết xong hãy để bài nghỉ mười phút rồi soi theo năm câu hỏi: đoạn đã có ít nhất ba cấu trúc bậc 6 khác nhau chưa; có từ nào lặp quá hai lần mà chưa thay bằng 这一 cộng danh từ không; các từ nối đã đứng đúng trước hay sau chủ ngữ chưa; có ít nhất một dẫn chứng đếm được không; giọng văn có nhất quán không. Muốn luyện tay viết thì vào luyện viết chữ Hán, muốn xem người bản xứ triển khai ý dài thế nào thì đọc bài đọc HSK 6.

Câu hỏi thường gặp

Đoạn văn HSK 6 nên dài bao nhiêu câu?

Sáu đến chín câu, tức khoảng ba trăm đến bốn trăm chữ Hán. Điều lạ là đoạn bậc 6 thường ít câu hơn đoạn bậc 4 nhưng vẫn nhiều chữ hơn, vì mỗi câu gánh nhiều thông tin hơn nhờ định ngữ nhiều lớp và cụm với 所. Viết mười hai câu ngắn là dấu hiệu bài chưa lên bậc: hãy tìm hai câu cùng nói về một danh từ rồi gộp thành một danh ngữ có định ngữ.

Người chấm nhìn vào đâu để phân biệt bài bậc 6 với bài bậc 5?

Ba chỗ. Thứ nhất là giọng văn: bài bậc 6 chọn được 便, 若, 与, 因, 至于 khi đề đòi trang trọng, còn bậc 5 dùng 就, 如果, 和, 因为 ở mọi ngữ cảnh. Thứ hai là mật độ thông tin trong một câu: bậc 6 dùng định ngữ nhiều lớp và cụm 所 để nén ba ý vào một danh ngữ. Thứ ba là chất lượng lập luận: bậc 6 dám nêu bằng chứng ngược với quan điểm của chính mình rồi mới xử lý nó.

便 và 就 có thay nhau được hoàn toàn không?

Không. 便 chỉ nhận vai phó từ nối trong câu tường thuật, đứng đúng chỗ của 就: 大二起我便在一家旅行社做过翻译. Nhưng 就 còn nhiều vai mà 便 không có, chẳng hạn chỉ mức độ ít trong 就三个人 hay nhấn mạnh trong 我就不去; ngoài ra 便 không dùng trong lời thoại đời thường và khi ra lệnh. Nhớ thêm chuyện đa âm: 便 đọc biàn khi làm phó từ, nhưng đọc pián trong 便宜.

因而, 从而, 然而, 至于 khác nhau chỗ nào?

因而 (HSK 5) nối nguyên nhân với kết quả, gần 因此 nhưng thiên văn viết hơn. 从而 (HSK 5) dùng khi việc trước tạo điều kiện cho việc sau, nên vế trước bắt buộc là hành động chứ không phải trạng thái. 然而 (HSK 4) mở một câu đối lập mới, nặng hơn 但是 và luôn đứng đầu câu. 至于 (HSK 6) không nói về nhân quả mà chuyển sang một mặt khác của cùng vấn đề, thường dẫn vào phần giải pháp cuối đoạn.

Làm sao biết một từ có nằm trong 5.456 từ HSK 6 không?

Đừng tin cảm giác, vì cảm giác sai rất thường xuyên. 提高 nghe học thuật nhưng chỉ là HSK 2; 充分, 优秀, 承担 nghe rất nâng cao nhưng thuộc HSK 4; ngược lại 发扬, 优异, 委婉, 语气, 分歧 đã sang HSK 7-9. Cách chắc chắn là tra ở từ điển rồi xem từ đó thuộc chương nào trong lộ trình HSK 6. Nếu từ vượt tầm, hãy diễn đạt vòng: chưa chắc về 呼吁 thì viết 希望大家一起做 là xong.

Học đủ 5.456 từ và cấu trúc HSK 6 theo lộ trìnhTừ vựng, ngữ pháp và bài tập xếp theo chương, để mỗi đoạn văn bạn viết đều nằm trong tầm từ đã học.

Hanbeego Team

Biên soạn bởi đội ngũ Hanbeego — học tiếng Trung hiệu quả, mỗi ngày 15 phút.

Đọc tiếp

Bài viết liên quan