Ngữ pháp03 tháng 8, 20269 phút đọc

Luyện dịch tiếng Trung HSK 2: nguyên tắc, bẫy và bài tập

Sáu nguyên tắc dịch Trung Việt ở trình độ HSK 2, năm bẫy trật tự từ người Việt hay mắc và ba nhóm bài tập dịch hai chiều có đáp án kèm pinyin, giải thích.

Dịch là chỗ không diễn được. Đoán nghĩa nhờ vài chữ quen thì vẫn trôi, nhưng bắt viết ra tiếng Việt là lộ ngay chỗ hổng: rơi chữ 了 cuối câu, đặt sai cụm thời gian, dịch nửa mẫu câu. Ở bậc 2 (1.272 từ vựng cộng dồn, chuẩn HSK 3.0) câu còn ngắn nên mỗi lỗi dịch chỉ đúng một điểm ngữ pháp cần vá. Bài này gom sáu nguyên tắc, năm bẫy và ba nhóm bài tập; xem thêm Ngữ pháp HSK 2.

Vì sao dịch lộ ra chỗ mình đang đoán

Hiểu và đoán trông giống nhau khi bạn chỉ đọc thầm. Lớp từ Hán Việt cho lợi thế nhìn chữ ra nghĩa gần đúng, nên câu nào cũng thấy "hiểu rồi". Dịch thì ép bạn chọn từng chữ, một chỗ không chọn được là biết mình chưa nắm.

  • Ra được ý chung nhưng không chỉ ra được chữ nào mang ý đó.
  • Bỏ qua 了, 过, 着, 得 vì nghĩ chúng không có nghĩa.
  • Câu tiếng Việt đúng ý nhưng nghe lạ, phải sửa vài lần.
  • Dịch bản tiếng Việt của mình về tiếng Trung thì ra câu khác hẳn.
  • Gặp lại cùng cấu trúc lại dịch theo cách khác.

Cách tự kiểm rẻ nhất là dịch hai chiều có khoảng nghỉ: hôm nay dịch sang tiếng Việt, hôm sau che câu gốc và dịch bản của mình về tiếng Trung. Chỗ lệch là điểm cần học lại.

Sáu nguyên tắc dịch ở trình độ HSK 2

Sáu nguyên tắc dưới đây xếp theo thứ tự thao tác thật khi ngồi trước một câu.

Đọc hết câu trước khi dịch

Động từ trung tâm nằm giữa câu, còn trợ từ đổi sắc thái nằm cuối. Tìm động từ rồi nhìn chữ cuối trước khi viết chữ tiếng Việt đầu tiên: bỏ 了 ở câu dưới là mất ý "không đến nữa".

Nguyên tắc 1

我们的汉语老师明天不来上课了。

Wǒmen de Hànyǔ lǎoshī míngtiān bù lái shàngkè le.

Mai thầy dạy tiếng Trung của chúng ta không đến lớp nữa.

Dịch theo cụm, không theo từng chữ

Đơn vị dịch nhỏ nhất là cụm. 下课以后 là một khối nghĩa "sau khi tan học", trong đó 以后 đứng sau sự việc, khác chữ "sau" tiếng Việt.

Nguyên tắc 2

下课以后我们去图书馆复习。

Xiàkè yǐhòu wǒmen qù túshūguǎn fùxí.

Sau khi tan học chúng tôi đi thư viện ôn bài.

Nhớ khung trật tự của câu tiếng Trung

Khung câu bậc 2 là chủ ngữ + thời gian + nơi chốn + động từ + tân ngữ, còn tiếng Việt đẩy thời gian và nơi chốn ra hai đầu. Viết 我练习汉字在教室 là bê nguyên trật tự tiếng Việt sang.

Nguyên tắc 3

我明天上午在教室练习汉字。

Wǒ míngtiān shàngwǔ zài jiàoshì liànxí Hànzì.

Sáng mai tôi luyện chữ Hán ở lớp học.

Mẫu câu cố định thì dịch cả mẫu

因为⋯⋯所以⋯⋯, 虽然⋯⋯但是⋯⋯, 又⋯⋯又⋯⋯ đều là bộ đôi. Tiếng Trung giữ đủ hai vế còn tiếng Việt cho lược một vế, nên dịch ngược phải tự thêm vế thiếu. Trong câu kể, 还是 là "vẫn".

Nguyên tắc 4

虽然今天很冷,但是我还是想去公园。

Suīrán jīntiān hěn lěng, dànshì wǒ háishì xiǎng qù gōngyuán.

Tuy hôm nay trời lạnh nhưng tôi vẫn muốn đi công viên.

Phân biệt hai trợ từ cùng ra chữ đã

了 dán sau động từ báo việc đã hoàn thành ở một thời điểm; 过 báo mình từng trải qua ít nhất một lần, không rõ lúc nào. Dịch 过 nên thêm chữ "từng".

Nguyên tắc 5a

我昨天买了一本词典。

Wǒ zuótiān mǎi le yì běn cídiǎn.

Hôm qua tôi mua một quyển từ điển.

Nguyên tắc 5b

我看过这个电影。

Wǒ kàn guo zhège diànyǐng.

Tôi từng xem bộ phim này.

Số đếm và lượng từ đi liền một khối

Tiếng Trung bắt buộc chèn lượng từ giữa số và danh từ, khối số + lượng từ + danh từ không tách được. Dịch ngược thì khó nhất là chọn đúng lượng từ: 封 cho thư, 辆 cho xe, 件 cho áo, 条 cho cá và đường, 位 cho người.

Nguyên tắc 6

我给妈妈写了一封信。

Wǒ gěi māma xiě le yì fēng xìn.

Tôi đã viết cho mẹ một bức thư.

Năm bẫy dịch người học Việt hay mắc

Năm bẫy dưới đây là lỗi phản xạ: hai thứ tiếng cùng xếp chủ ngữ trước vị ngữ nên người học dễ tưởng chúng giống nhau.

  • Trạng ngữ thời gian. Tiếng Trung đặt trước động từ (我七点起床), tiếng Việt đặt sau. Giữ trật tự tiếng Việt sẽ ra 我起床七点, sai.
  • Định ngữ ngược thứ tự. Phần bổ nghĩa luôn đứng trước danh từ, nên 一件很漂亮的衣服 đọc từ phải sang trái: "một chiếc áo rất đẹp".
  • 很 không luôn là "rất". Trong 今天天气很好 nó chỉ giữ nhịp cho câu tính từ, dịch "hôm nay thời tiết đẹp" là đủ; nhấn thật thì dùng 非常, 十分, 特别.
  • 有 và 在 đều ra chữ "ở". 有 nêu có cái gì tồn tại, chủ ngữ là nơi chốn; 在 nêu vật đã biết nằm ở đâu.
  • Câu 是⋯⋯的. Cặp này nhấn thời gian, nơi chốn, cách thức hay người làm của việc đã xảy ra, tiếng Việt không có chữ tương ứng.
Bẫy 4

桌子上有一本书。书在桌子上。

Zhuōzi shang yǒu yì běn shū. Shū zài zhuōzi shang.

Trên bàn có một quyển sách. Quyển sách ở trên bàn.

Bẫy 5

我是坐地铁来的。

Wǒ shì zuò dìtiě lái de.

Tôi đến bằng tàu điện ngầm.

Ba chỗ nữa hay mất điểm khi dịch sang tiếng Trung: dùng 不 cho việc đã qua mà không xảy ra, đúng ra phải là 没; thêm 了 sau 没; và đặt 一点儿 trước tính từ. 有点儿 mới đứng trước và mang ý chê, 一点儿 đứng sau nêu mức chênh.

Từ nối và trợ từ quyết định nghĩa cả câu

Ở bậc 2, phần lớn lỗi dịch nằm ở từ nối và trợ từ chứ không ở danh từ: lệch một chữ là lệch nghĩa cả câu. Mỗi mục dưới đây có nút phát âm và link từ điển.

Mười từ nối và trợ từ hay bị dịch sai

  • 因为yīnwèi

    bởi vì, vì

    mở vế nguyên nhân, đi cùng 所以

  • 所以suǒyǐ

    cho nên, vì vậy

    mở vế kết quả, không mở đầu câu

  • 虽然suīrán

    mặc dù, tuy rằng

    gần như luôn có 但是 theo sau

  • 但是dànshì

    nhưng, nhưng mà

    đứng đầu vế sau, nối ý trái chiều

  • 而且érqiě

    hơn nữa, mà còn

    thêm ý cùng chiều, mạnh hơn 也

  • 如果rúguǒ

    nếu, nếu như

    vế sau thường có 就

  • 或者huòzhě

    hoặc, hay là

    dùng trong câu kể, hỏi thì dùng 还是

  • 已经yǐjīng

    đã, đã rồi

    trước động từ, cuối câu thêm 了

  • guo

    (trợ từ chỉ việc từng trải qua)

    dán sau động từ, dịch là "từng"

  • de

    (trợ từ nối lời nhận xét về hành động)

    động từ + 得 + tính từ, khinh thanh

Bài tập 1: dịch từ tiếng Trung sang tiếng Việt

Che phần dịch, tự viết bản của mình ra giấy rồi mới đối chiếu.

Câu 1

我们是上个月认识的。

Wǒmen shì shàng gè yuè rènshi de.

Chúng tôi biết nhau từ tháng trước.

Câu 1. Cặp 是⋯⋯的 nhấn vào mốc thời gian 上个月. Tiếng Việt không có chữ cho 是 và 的, chỉ cần đưa mốc thời gian ra đầu hoặc thêm "từ".

Câu 2

他跑得比我快。

Tā pǎo de bǐ wǒ kuài.

Anh ấy chạy nhanh hơn tôi.

Câu 2. 得 mở phần nhận xét về hành động 跑, còn 比我 chen vào giữa 得 với tính từ 快. Tiếng Việt gộp cả khối thành "nhanh hơn tôi", 得 không dịch thành "được".

Câu 3

因为下雪,所以我们今天没上课。

Yīnwèi xiàxuě, suǒyǐ wǒmen jīntiān méi shàngkè.

Vì tuyết rơi nên hôm nay chúng tôi không có lớp.

Câu 3. Mẫu 因为⋯⋯所以⋯⋯ đủ hai vế, cặp "vì… nên…" cũng vậy nên dịch thẳng được. Chỗ dễ sai là 没: việc đã qua mà không xảy ra thì dịch "không", không phải "chưa".

Bài tập 2: dịch từ tiếng Việt sang tiếng Trung

Chiều này khó hơn vì phải tự chọn trật tự, lượng từ và trợ từ.

  1. Em trai tôi ăn xong cơm rồi.
  2. Bạn từng đi tàu điện ngầm ở Bắc Kinh chưa?
  3. Nếu mai trời không mưa thì tôi sẽ đi công viên.
Đáp án 1

我弟弟已经吃完饭了。

Wǒ dìdi yǐjīng chī wán fàn le.

Em trai tôi ăn xong cơm rồi.

Đáp án 1. Chữ "xong" là bổ ngữ kết quả 完, dán ngay sau động từ 吃 và đẩy tân ngữ 饭 ra sau, nên 吃饭完 sai. Câu có 已经 thì cuối câu cần 了.

Đáp án 2

你在北京坐过地铁吗?

Nǐ zài Běijīng zuò guo dìtiě ma?

Bạn từng đi tàu điện ngầm ở Bắc Kinh chưa?

Đáp án 2. Chữ "từng" báo hiệu 过 dán sau động từ 坐, còn cụm nơi chốn 在北京 lên trước động từ. Câu hỏi kết bằng 吗 là đủ cho chữ "chưa".

Đáp án 3

如果明天不下雨,我就去公园。

Rúguǒ míngtiān bú xiàyǔ, wǒ jiù qù gōngyuán.

Nếu mai trời không mưa thì tôi sẽ đi công viên.

Đáp án 3. 如果 mở vế điều kiện, vế sau dùng 就 nên không cần chữ cho "thì sẽ". Chữ "trời" không có chỗ tương ứng vì 下雨 tự đủ nghĩa. Việc chưa xảy ra phủ định bằng 不.

Bài tập 3: sửa bản dịch chưa tự nhiên

Ba bản dịch dưới đây không sai nghĩa nhưng nghe không giống tiếng Việt. Sửa rồi so với đáp án.

  1. 我在中国住了两年。 — cần sửa: "Tôi ở Trung Quốc sống được hai năm."
  2. 他汉语说得很好。 — cần sửa: "Anh ấy tiếng Trung nói được rất tốt."
  3. 我们一共买了三件衣服。 — cần sửa: "Chúng tôi tổng cộng mua rồi ba cái áo."
Sửa 1

我在中国住了两年。

Wǒ zài Zhōngguó zhù le liǎng nián.

Tôi đã sống ở Trung Quốc hai năm.

Sửa 1. Cụm 在中国 đứng trước động từ 住, nhưng tiếng Việt đặt nơi chốn sau động từ nên phải đảo thành "sống ở Trung Quốc". 两年 là bổ ngữ thời lượng, dịch gọn.

Sửa 2

他汉语说得很好。

Tā Hànyǔ shuō de hěn hǎo.

Anh ấy nói tiếng Trung rất giỏi.

Sửa 2. Tân ngữ 汉语 được đưa lên trước động từ để làm chủ đề nên khi dịch phải trả nó về sau động từ. 得 chỉ mở phần nhận xét 很好, không phải "được".

Sửa 3

我们一共买了三件衣服。

Wǒmen yígòng mǎi le sān jiàn yīfu.

Chúng tôi mua tất cả ba chiếc áo.

Sửa 3. 了 sau động từ chỉ việc đã hoàn thành nên gộp vào chữ "mua" hoặc thêm "đã", không dịch thành "mua rồi". Lượng từ 件 dịch "chiếc" tự nhiên hơn "cái".

Khi bí, đừng dán cả câu vào máy dịch rồi chép lại. Tự dịch trước, rồi dùng công cụ dịch để đối chiếu và tra từ điển chữ còn ngờ.

Mỗi ngày nên luyện dịch bao nhiêu câu ở trình độ HSK 2?

Năm đến tám câu là đủ, miễn chia đều hai chiều. Mười câu không soi lỗi kém xa năm câu có đối chiếu và ghi lại điểm vừa trượt.

Dịch chiều nào khó hơn, Trung sang Việt hay Việt sang Trung?

Việt sang Trung khó hơn vì phải tự quyết trật tự câu, lượng từ và trợ từ. Nên tập cả hai: chiều kia dạy hiểu, chiều này dạy viết.

Có nên dùng công cụ dịch tự động khi luyện tập không?

Nên, nhưng chỉ ở bước sau. Tự dịch xong mới đưa vào công cụ để so, chỗ nào khác thì tra lại rồi tự kết luận.

Làm sao biết bản dịch của mình đã đạt?

Ba tiêu chí: đủ thông tin, không rơi trợ từ hay một vế của mẫu câu; đúng sắc thái thời gian; người Việt đọc lên không thấy lạ.

Luyện dịch trên bài đọc HSK 2Đoạn đọc ngắn có phát âm bản xứ, dịch từng câu rồi đối chiếu.

Hanbeego Team

Biên soạn bởi đội ngũ Hanbeego — học tiếng Trung hiệu quả, mỗi ngày 15 phút.

Đọc tiếp

Bài viết liên quan