Ở ba bậc đầu, hiểu một câu tiếng Trung gần như chỉ là nhận ra hết các từ trong câu. Sang HSK 4 thì không: bậc này phủ 3.245 từ vựng cộng dồn theo chuẩn HSK 3.0, và gần một nửa trong 75 điểm ngữ pháp là câu hai vế có cặp từ nối. Đọc trôi cả trang mà vẫn hiểu lệch là chuyện thường. Dịch trọn câu là phép thử không cho phép đoán. Cấu trúc gốc tra ở Ngữ pháp HSK 4.
Vì sao đến bậc 4 dịch mới trở thành thước đo
Câu bậc 4 dài lên không phải vì thêm từ mới mà vì thêm tầng: hai vế nối bằng cặp liên từ, mỗi vế lại có một cụm bổ nghĩa dài trước danh từ. Đọc hiểu đại ý chỉ cần bắt được động từ chính, còn dịch thì phải xử lý cả bốn điểm sau.
- Câu dài che lỗi hiểu. Sót một chữ 都 hay 才 vẫn ra đại ý, nhưng bản dịch sai logic.
- Định ngữ dài đảo hướng. Tiếng Trung dồn phần bổ nghĩa trước danh từ, tiếng Việt đẩy ra sau.
- Cặp liên từ quyết định nghĩa. Đổi 就 thành 才 là đổi hẳn quan hệ hai vế.
- Từ đồng nghĩa lộ diện. Từ điển cho 感动 và 激动 cùng một dòng nghĩa tiếng Việt.
无论工作有多忙,他每天晚上都会花一个小时复习老师上课讲过的内容。
Wúlùn gōngzuò yǒu duō máng, tā měi tiān wǎnshang dōu huì huā yí gè xiǎoshí fùxí lǎoshī shàngkè jiǎng guo de nèiróng.
Dù công việc bận đến đâu, mỗi tối anh ấy đều dành một tiếng để ôn lại nội dung thầy đã giảng trên lớp.
Câu trên chỉ có một từ riêng bậc 4 là 无论 (wúlùn), còn lại là từ ba bậc đầu. Cái khó nằm ở cụm 老师上课讲过的内容 — bảy chữ bổ nghĩa cho hai chữ cuối. Dịch kỹ năm câu như thế còn hơn đọc lướt năm mươi câu.
Cặp liên từ: sai một nửa cặp là sai cả câu
Tiếng Việt đặt từ nối ở đầu vế rồi thôi; tiếng Trung dùng cặp hô ứng, và nửa sau mới là chỗ gánh logic. Việc đầu tiên khi nhận câu dài là khoanh cả hai nửa. Bảng dưới ghi kèm bậc thật của từng từ nối.
| Cặp liên từ | Bậc từ nối | Nghĩa | Bẫy hay mắc |
|---|---|---|---|
| 只要⋯⋯,就⋯⋯ | bậc 2 | chỉ cần… là… | điều kiện đủ, dễ đạt |
| 只有⋯⋯,才⋯⋯ | bậc 3 | chỉ khi… mới… | đổi 才 thành 就 là mất ý ràng buộc |
| 无论⋯⋯,都/也⋯⋯ | bậc 4 | dù… cũng… | sau 无论 phải có 多么, 怎么 hoặc A还是B |
| 不管⋯⋯,都/也⋯⋯ | bậc 4 | bất kể… cũng… | khẩu ngữ; bỏ 都 hay 也 là câu hụt |
| 即使⋯⋯,也⋯⋯ | bậc 5 | cho dù… cũng… | trang trọng; vế sau vẫn phải có 也 |
| 尽管⋯⋯,但是⋯⋯ | bậc 5 | mặc dù… nhưng… | đi với 但是, 可是, 还是, không hô ứng 也 |
只要按时交作业,老师就不会批评你。
Zhǐyào ànshí jiāo zuòyè, lǎoshī jiù bú huì pīpíng nǐ.
Chỉ cần nộp bài tập đúng hẹn thì thầy sẽ không phê bình bạn.
只有把每个句子都读懂,你才能翻译得准确。
Zhǐyǒu bǎ měi gè jùzi dōu dúdǒng, nǐ cái néng fānyì de zhǔnquè.
Chỉ khi đọc hiểu từng câu một, bạn mới dịch được chính xác.
Mẹo nhớ: 就 (jiù) đi với điều kiện dễ, 才 (cái) đi với điều kiện khó. Câu gốc có 才 mà bản dịch thiếu chữ "mới" là đã lệch.
Định ngữ dài trước danh từ: tách ra rồi ghép lại
Đây là khác biệt cấu trúc lớn nhất giữa hai thứ tiếng: tiếng Trung xếp mọi thành phần bổ nghĩa vào trước danh từ trung tâm rồi đóng bằng chữ 的, tiếng Việt xếp chúng sau. Dịch định ngữ dài vì thế là lật ngược thứ tự.
昨天在会议上提出这个建议的那位同事今天没来上班。
Zuótiān zài huìyì shàng tíchū zhège jiànyì de nà wèi tóngshì jīntiān méi lái shàngbān.
Vị đồng nghiệp nêu đề xuất này trong cuộc họp hôm qua thì hôm nay không đến chỗ làm.
Bám theo trật tự chữ Hán sẽ ra một bản dịch máy móc không dùng được: "hôm qua ở trên cuộc họp nêu ra đề xuất này vị đồng nghiệp kia không đến đi làm".
- Tìm chữ 的 cuối cùng; danh từ ngay sau nó là danh từ trung tâm, dịch ra trước.
- Cắt phần trước 的 thành mảnh theo thời gian, nơi chốn, hành động.
- Ghép theo hướng tiếng Việt: danh từ trung tâm đứng đầu, mảnh dài nhất về cuối.
- Đọc lại bản dịch khi đã che câu gốc; còn phải nghĩ mới hiểu là chưa xong.
Dịch ngược: cách tự chấm bài khi không có người sửa
Dịch xuôi cho cảm giác đã hiểu, dịch ngược cho bằng chứng. Cất câu gốc đi, hôm sau dịch bản tiếng Việt của mình trở lại tiếng Trung rồi so hai bản. Ba chỗ lệch hay gặp:
- Thiếu nửa sau của cặp liên từ — bạn đọc theo nghĩa Việt chứ chưa theo quan hệ logic.
- Cụm giới từ trôi ra sau động từ — tiếng Trung bắt cụm 跟老师 đứng trước động từ.
- Mất chữ 的 trong định ngữ dài — bản dịch ngược tách thành hai câu rời.
Ví dụ: từ câu "Bất kể ngày mai trời có mưa hay không, tôi cũng vẫn xuất phát đúng giờ", người học hay viết 不管明天下雨或者不,我还是去 — sai ngữ pháp, vì sau 不管 phải là khuôn để ngỏ hai khả năng.
不管明天下不下雨,我都要按时出发。
Bùguǎn míngtiān xià bú xià yǔ, wǒ dōu yào ànshí chūfā.
Bất kể ngày mai trời có mưa hay không, tôi cũng vẫn xuất phát đúng giờ.
Năm cặp từ hay bị dịch lẫn ở bài tập bậc 4
Năm cặp dưới nằm rải từ bậc 2 tới bậc 4 nhưng đến bài dịch bậc 4 mới bị đặt cạnh nhau. Từ điển Việt hay gán cho cả hai từ cùng một dòng nghĩa nên chỉ ngữ cảnh phân biệt được.
Năm cặp dễ dịch lẫn theo chuẩn HSK 3.0
听完他的故事,我们都很感动。知道自己通过了考试,她激动得哭了。
Tīng wán tā de gùshi, wǒmen dōu hěn gǎndòng. Zhīdào zìjǐ tōngguò le kǎoshì, tā jīdòng de kū le.
Nghe hết câu chuyện của anh ấy, chúng tôi đều rất cảm động. Biết mình đã đỗ kỳ thi, cô ấy xúc động đến bật khóc.
Ba cặp còn lại nhớ theo cụm. Cần quyết định thì 考虑, cần đào sâu thì 思考. Việc bỏ dở mà làm tiếp thì 继续, việc có trở lực mà vẫn duy trì thì 坚持. Văn viết chọn 逐渐, câu kể chọn 渐渐.
Cặp 提高 và 增加 hay lẫn vì tiếng Việt cùng nói "tăng". 水平, 质量, 效果 chỉ đi với 提高; 人数, 收入, 数量 mới đi với 增加 — tra thêm ở từ điển Hanbeego.
Cụm cố định: dịch theo nghĩa đen là sai chắc
Bậc 4 bắt đầu có những khối chữ mà nghĩa toàn khối không bằng tổng nghĩa từng chữ. Chúng ngắn nên rất dễ bị dịch từng chữ.
| Cụm cố định | Nếu dịch từng chữ | Nghĩa dùng được khi làm bài |
|---|---|---|
| 五颜六色 (bậc 4) | năm màu sáu sắc | muôn màu muôn sắc, rực rỡ |
| 来不及 (bậc 4) | đến không kịp | không kịp; 来 không nghĩa "đến" |
| 说不定 (bậc 4) | nói không chắc | không chừng, biết đâu; là phó từ |
| 看来 (bậc 4) | xem tới | xem ra, có vẻ như; nêu suy đoán |
| 受不了 (bậc 4) | nhận không nổi | không chịu nổi, quá sức |
我们再不出发就来不及了,说不定路上还会堵车。
Wǒmen zài bù chūfā jiù láibují le, shuōbudìng lùshang hái huì dǔchē.
Không xuất phát ngay thì không kịp nữa, không chừng trên đường còn tắc xe.
Bốn nhóm bài tập luyện dịch bậc 4
Cách dùng: che phần dịch, tự viết bản của mình ra giấy rồi mới so quan hệ hai vế và vị trí cụm bổ nghĩa.
Nhóm 1: dịch Trung sang Việt, cấu trúc trọng tâm
既然大家的意见都一样,我们就按这个办法做吧。
Jìrán dàjiā de yìjiàn dōu yíyàng, wǒmen jiù àn zhège bànfǎ zuò ba.
Đã vậy ý kiến của mọi người đều giống nhau thì chúng ta cứ làm theo cách này đi.
对于这件事,他连一句话也没说。
Duìyú zhè jiàn shì, tā lián yí jù huà yě méi shuō.
Về chuyện này, anh ấy thậm chí không nói một câu nào.
- Bẫy bài 1: 既然 dựa trên điều đã biết nên dịch "đã… thì…", không phải "vì… nên…".
- Bẫy bài 2: 连 không phải "liền" mà là dấu nhấn mạnh, luôn cặp với 也 hoặc 都.
Nhóm 2: dịch Trung sang Việt, câu phức và định ngữ dài
虽然这篇文章里有很多没学过的词,但是我还是看懂了主要内容。
Suīrán zhè piān wénzhāng lǐ yǒu hěn duō méi xué guo de cí, dànshì wǒ háishi kàndǒng le zhǔyào nèiróng.
Tuy trong bài viết này có nhiều từ chưa học, nhưng tôi vẫn hiểu được nội dung chính.
那位每天早上在公园里带着孩子们跑步的老人已经八十岁了。
Nà wèi měi tiān zǎoshang zài gōngyuán lǐ dài zhe háizimen pǎobù de lǎorén yǐjīng bāshí suì le.
Cụ già mỗi sáng dẫn các cháu chạy bộ trong công viên kia đã tám mươi tuổi rồi.
- Bẫy bài 3: cụm 没学过的 bổ nghĩa cho 词, phải đảo ra sau trong tiếng Việt.
- Bẫy bài 4: mảnh trước 的 chứa cả thời gian, nơi chốn và hành động, danh từ trung tâm là 老人.
Nhóm 3: dịch Việt sang Trung
- Đề bài 5: Chỉ khi tự dịch lại một lượt, bạn mới biết mình hiểu được bao nhiêu.
- Đề bài 6: Nếu không ghi lại chỗ dịch sai thì lần sau bạn nhất định vẫn sai.
只有自己翻译一遍,你才知道自己到底懂了多少。
Zhǐyǒu zìjǐ fānyì yí biàn, nǐ cái zhīdào zìjǐ dàodǐ dǒng le duōshao.
Chỉ khi tự dịch lại một lượt, bạn mới biết mình hiểu được bao nhiêu.
如果不把翻译错的地方记下来,下次你一定还会错。
Rúguǒ bù bǎ fānyì cuò de dìfang jì xiàlai, xià cì nǐ yídìng hái huì cuò.
Nếu không ghi lại chỗ dịch sai thì lần sau bạn nhất định vẫn sai.
- Bẫy bài 5: "chỉ khi… mới…" phải ra 只有⋯⋯才⋯⋯; dùng 只要⋯⋯就⋯⋯ là hạ nhẹ điều kiện.
- Bẫy bài 6: phủ định của câu chữ 把 đặt 不 trước 把, không đặt trước động từ.
Nhóm 4: dịch một đoạn ngắn năm câu
我以前学中文只用眼睛看,一遇到长句子就跳过去。后来老师让我每天翻译三个句子,写在本子上。刚开始我觉得很麻烦,翻译一句要花十几分钟。坚持了两个月以后,我发现自己读文章的速度反而变快了。现在无论句子有多长,我都能先找到主要的意思。
Wǒ yǐqián xué Zhōngwén zhǐ yòng yǎnjing kàn, yí yùdào cháng jùzi jiù tiào guòqu. Hòulái lǎoshī ràng wǒ měi tiān fānyì sān gè jùzi, xiě zài běnzi shang. Gāng kāishǐ wǒ juéde hěn máfan, fānyì yí jù yào huā shí jǐ fēnzhōng. Jiānchí le liǎng gè yuè yǐhòu, wǒ fāxiàn zìjǐ dú wénzhāng de sùdù fǎn'ér biàn kuài le. Xiànzài wúlùn jùzi yǒu duō cháng, wǒ dōu néng xiān zhǎodào zhǔyào de yìsi.
Trước đây tôi học tiếng Trung chỉ đọc bằng mắt, hễ gặp câu dài là bỏ qua. Sau đó thầy giáo bắt tôi mỗi ngày dịch ba câu, viết ra vở. Lúc mới bắt đầu tôi thấy rất phiền, dịch một câu phải mất mười mấy phút. Kiên trì hai tháng, tôi phát hiện tốc độ đọc bài của mình trái lại còn nhanh hơn. Bây giờ dù câu có dài đến đâu, tôi cũng tìm được ý chính trước.
- Bẫy 1: 一⋯⋯就⋯⋯ ở câu đầu nghĩa "hễ… là…", không tách thành hai câu rời.
- Bẫy 2: 反而 nằm sau chủ ngữ, hàm ý kết quả ngược dự đoán; bỏ chữ "trái lại" là mất ý.
- Bẫy 3: 读文章的速度 cũng là một định ngữ, trung tâm là 速度 — dịch "tốc độ đọc bài".
Nguồn câu luyện dài hạn: lấy từng câu trong bài đọc HSK 4 làm đề, dịch xong mới đối chiếu bằng công cụ dịch.
Mỗi ngày nên dịch bao nhiêu câu ở trình độ HSK 4?
Ba tới năm câu dịch kỹ là đủ, miễn làm trọn ba bước: dịch xuôi, đọc lại bản tiếng Việt khi đã che câu gốc, ghi lại chỗ sai. Dịch hai mươi câu kiểu hiểu đại ý không tạo tiến bộ nào.
Dịch Trung sang Việt hay Việt sang Trung quan trọng hơn?
Cần cả hai. Dịch Trung sang Việt kiểm tra khả năng đọc, nhất là việc nhận ra cặp liên từ và định ngữ dài. Dịch Việt sang Trung kiểm tra khả năng sản xuất — đúng kỹ năng cần cho phần viết của đề thi.
Cần bao nhiêu từ vựng thì dịch được câu bậc 4?
Chuẩn HSK 3.0 tính cộng dồn 3.245 từ cho hết bậc 4, nhưng phần lớn câu bậc 4 chỉ có một tới hai từ riêng bậc này. Cái làm câu khó là số tầng cấu trúc — lộ trình xem ở bài học HSK 4.
Hanbeego Team
Biên soạn bởi đội ngũ Hanbeego — học tiếng Trung hiệu quả, mỗi ngày 15 phút.